Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học "Kế thừa những ưu điểm của Luật Phá sản năm 2004 và tăng cường tính khả thi trong thực tiễn thi hành" do nghiên cứu sinh Lê Ngọc Thắng thực hiện tại Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2014, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Vũ Quang. Đề tài thuộc chuyên ngành Luật Kinh tế, mã số 62 38 01 07.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng phá sản là hiện tượng khách quan và tất yếu trong nền kinh tế thị trường. Sau khi Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 bộc lộ nhiều hạn chế sau gần một thập kỷ thi hành, Luật Phá sản năm 2004 được ban hành nhằm tạo lập hành lang pháp lý đồng bộ hơn. Tuy nhiên, sau gần mười năm áp dụng, đạo luật này gặp nhiều vướng mắc nghiêm trọng trong khâu thực thi, dẫn đến hiệu quả điều chỉnh thực tế ở mức rất thấp. Báo cáo Doing Business của Ngân hàng Thế giới (WB) và Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) qua các năm 2008, 2012 và 2014 liên tục xếp hạng chỉ số xử lý doanh nghiệp mất khả năng thanh toán của Việt Nam ở nhóm thấp của thế giới. Nhiều doanh nghiệp mất khả năng thanh toán phải tự rút lui hoặc ngưng hoạt động không chính thức thay vì qua thủ tục phá sản, dẫn tới hiện tượng "doanh nghiệp chết không được chôn". Tác giả nhận định nguyên nhân không chỉ nằm ở các quy định nội dung mà còn ở sự bất cập của các thiết chế thuộc luật hình thức (tố tụng phá sản), đòi hỏi phải nghiên cứu có hệ thống để chỉ ra các ưu điểm cần kế thừa và đề xuất giải pháp tăng cường tính khả thi.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là phân tích, luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm làm rõ những ưu điểm của Luật Phá sản năm 2004 cần được kế thừa trong quá trình hoàn thiện pháp luật (cụ thể là Luật Phá sản năm 2014); đồng thời đánh giá thực trạng thi hành, những vướng mắc bất cập và đề xuất các phương hướng, giải pháp nâng cao tính khả thi của pháp luật phá sản Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định thành 4 nhiệm vụ cụ thể:
- Về lý luận: Hệ thống hóa và làm rõ thêm các vấn đề lý luận về phá sản, pháp luật phá sản và thực thi pháp luật phá sản; nhận diện mô hình, đặc trưng cơ bản của pháp luật phá sản Việt Nam.
- Về thực tiễn: Phân tích, đánh giá thực trạng thi hành pháp luật phá sản ở Việt Nam qua các thiết chế thi hành và tính khả thi của các quy định trong Luật Phá sản năm 2004; chỉ ra những hạn chế, bất cập trong các quy định và văn bản hướng dẫn.
- Về luật so sánh: Nghiên cứu, so sánh kinh nghiệm xây dựng, hoàn thiện pháp luật phá sản của một số quốc gia điển hình và rút ra bài học cho Việt Nam.
- Về giải pháp: Nghiên cứu và đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả thực thi cũng như tiếp tục hoàn thiện pháp luật phá sản trong tương lai.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các quy định pháp luật về phá sản và thực tiễn thi hành pháp luật phá sản tại Việt Nam, tập trung vào thiết chế tổ chức bộ máy và các nội dung: phạm vi, đối tượng áp dụng; thẩm quyền của Tòa án; tiêu chí xác định doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản; chủ thể có quyền và nghĩa vụ nộp đơn; tài sản phá sản và bảo toàn tài sản phá sản.
Phạm vi nghiên cứu được xác định:
- Phạm vi thời gian: Tập trung nghiên cứu giai đoạn từ năm 2004 trở lại đây, dựa trên các quy định của Luật Phá sản năm 2004 và một số vấn đề của Luật Phá sản năm 2014.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu tại Việt Nam và so sánh có chọn lọc với pháp luật của Cộng hòa Pháp (đại diện hệ thống Civil Law), Hoa Kỳ (đại diện hệ thống Common Law) và Trung Quốc (quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi có nét tương đồng).
| Chỉ số / Tiêu chí thống kê |
Nguồn dữ liệu |
Số liệu ghi nhận |
| Xếp hạng môi trường kinh doanh Việt Nam (2008) |
Báo cáo WB & IFC 2008 |
Xếp thứ 91/178 quốc gia |
| Thời gian giải quyết phá sản trung bình (2008) |
Báo cáo WB & IFC 2008 |
Mất ít nhất 5 năm |
| Chi phí giải quyết phá sản (2008) |
Báo cáo WB & IFC 2008 |
Chiếm 15% giá trị tài sản doanh nghiệp |
| Tỷ lệ thu hồi tài sản vỡ nợ (2008) |
Báo cáo WB & IFC 2008 |
Thu hồi được 18% giá trị tài sản |
| Xếp hạng môi trường kinh doanh Việt Nam (2012) |
Báo cáo WB & IFC 2012 |
Xếp thứ 99/183 nền kinh tế |
| Xếp hạng xử lý doanh nghiệp mất khả năng thanh toán (2012) |
Báo cáo WB & IFC 2012 |
Xếp thứ 149/183 nền kinh tế |
| Xếp hạng xử lý doanh nghiệp mất khả năng thanh toán (2014) |
Báo cáo Doing Business 2014 (WB) |
Xếp thứ 149/189 nền kinh tế |
| Số vụ Tòa án thụ lý qua 9 năm thi hành Luật 1993 |
TAND Tối cao |
Thụ lý 151 vụ, giải quyết 95 vụ |
| Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản (đến 30/9/2012) |
Dự thảo báo cáo tổng kết TAND Tối cao |
336 đơn gửi đến 49/63 TAND cấp tỉnh |
| Quyết định mở thủ tục / Tuyên bố phá sản (đến 30/9/2012) |
Dự thảo báo cáo tổng kết TAND Tối cao |
236 quyết định mở, 83 quyết định tuyên bố |
| Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản (01/10/2012 - 28/02/2014) |
Số liệu cập nhật TAND Tối cao |
284 đơn nhận được |
| Quyết định mở thủ tục / Tuyên bố phá sản (01/10/2012 - 28/02/2014) |
Số liệu cập nhật TAND Tối cao |
77 quyết định mở, 12 quyết định tuyên bố |
| Tổng đơn yêu cầu phá sản (15/10/2004 - 28/02/2014) |
TAND Tối cao lũy kế gần 10 năm |
620 đơn nhận được |
| Tổng quyết định mở thủ tục / Tuyên bố phá sản (2004 - 2014) |
TAND Tối cao lũy kế gần 10 năm |
331 quyết định mở, 95 quyết định tuyên bố |
| Doanh nghiệp thành lập mới / đóng cửa năm 2010 |
Thống kê trong nước |
83.600 thành lập mới / 43.505 đóng cửa |
| Doanh nghiệp thành lập mới / đóng cửa năm 2011 |
Thống kê trong nước |
75.000 thành lập mới / 53.000 đóng cửa |
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan trực tiếp đến đề tài theo các nhóm nội dung:
Các công trình nghiên cứu trên thế giới:
- Học thuyết về chính sách phá sản (Bankruptcy-policy Theory) của Elizabeth Warren: Chỉ ra pháp luật phá sản không đơn thuần là thủ tục đòi nợ tập thể mà còn gánh vác các vai trò xã hội trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế; tùy thuộc thể chế chính trị và cơ chế kinh tế của từng nước mà thủ tục phá sản được thiết kế khác nhau.
- Học thuyết về chia sẻ rủi ro (Risk-Sharing Theory) của Thomas H. Jackson và Robert E.: Xác định mục tiêu tối đa hóa giá trị tài sản con nợ và chia sẻ nguy cơ thất bại giữa các chủ nợ, nhấn mạnh vai trò của cơ chế thương lượng và tái tổ chức hoạt động.
- Nghiên cứu về nền kinh tế chuyển đổi của Michael Kim (1996) trên tạp chí Fordham Law Review với tựa đề "When nonuse is useful: Bankruptcy law in post – Communist Central and Eastern Europe": Khảo sát thực trạng áp dụng luật phá sản tại Cộng hòa Séc (mô hình tăng tốc) và Hungary (mô hình từ từ), kết luận rằng luật phá sản hiện đại rất khó vận hành hiệu quả tại các quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi chưa hoàn chỉnh.
Các công trình nghiên cứu tại Việt Nam:
- Nhóm nghiên cứu lý luận chung: Nguyễn Tấn Hơn (1995) với "Phá sản doanh nghiệp - một số vấn đề thực tiễn"; Bùi Nguyên Khánh (1996) với "Pháp luật về phá sản doanh nghiệp trong Luật kinh tế Việt Nam"; Phạm Duy Nghĩa (2003) với bài viết "Đi tìm triết lý Luật Phá sản" và công trình "Chuyên khảo Luật Kinh tế" (2004); Dương Đăng Huệ (2005) với bài viết trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật; Tô Nguyễn Cẩm Anh (2005) trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật.
- Nhóm nghiên cứu so sánh quốc tế: Dương Đăng Huệ (1995) so sánh pháp luật phá sản Việt Nam và Úc; đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở (2001) về pháp luật quốc tế về phá sản; luận án tiến sĩ của Trương Hồng Hải (2004); luận văn thạc sĩ của An Phương Huệ (2004) so sánh với Cộng hòa Pháp; tham luận của Ngô Huy Cương tại hội nghị tổng kết ở Đà Nẵng; Bùi Nguyên Khánh (2002) nghiên cứu về Luật Phá sản Hoa Kỳ.
- Nhóm nghiên cứu về hoàn thiện pháp luật phá sản: Các đề tài và hội thảo của Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (2002), Bộ Tư pháp và TAND Tối cao (2008), Bộ Tư pháp và Chương trình Phát triển SME của MPI-GTZ (2008); đề tài cấp bộ do Dương Đăng Huệ chủ biên (2009); luận văn thạc sĩ của Đào Thị Hồng Phương (2009), Đào Thị Thu Trang (2009), Nguyễn Văn Nam (2010 theo hướng dẫn của UNCITRAL 2005); báo cáo đánh giá tác động của TAND Tối cao (2013); các bài viết của Dương Đăng Huệ, Cao Đăng Vinh và Lê Ngọc Thắng (2013).
- Nhóm nghiên cứu về thực thi và thiết chế phá sản: Đinh Thị Thu Hương (2006) và Đặng Văn Huy (2010) nghiên cứu về Tổ quản lý và thanh lý tài sản; Lê Tuấn Anh (2013) nghiên cứu về vai trò của Tòa án; Vũ Thị Hồng Vân (2008) với luận án tiến sĩ về quản lý và xử lý tài sản phá sản; Cao Đăng Vinh (2013) về bảo toàn tài sản; Bùi Thị Dung Huyền, Nguyễn Thái Hà và Bùi Hữu Toàn (2005).
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định: Phần lớn các công trình trước đây chỉ phân tích pháp luật phá sản ở góc độ lý luận chung hoặc dừng lại ở việc liệt kê các bất cập trong các điều khoản nội dung dựa trên số liệu báo cáo tổng kết. Chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện về việc kế thừa có chọn lọc các ưu điểm của Luật Phá sản năm 2004 gắn liền với việc phân tích tổ chức bộ máy thực thi pháp luật phá sản – yếu tố then chốt quyết định tính khả thi của thủ tục tố tụng phá sản tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết của luận án được xây dựng dựa trên thế giới quan duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, cùng các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhiều thành phần. Đồng thời, luận án tiếp thu các lý thuyết pháp lý quốc tế về chính sách phá sản, lý thuyết chia sẻ rủi ro và các chuẩn mực lập pháp phá sản hiện đại.
Giả thuyết nghiên cứu của đề tài gồm 3 giả thuyết:
- Giả thuyết 1: Phá sản, pháp luật phá sản và thực thi pháp luật phá sản là lĩnh vực đặc thù của kinh tế thị trường.
- Giả thuyết 2: Thực tiễn thực thi pháp luật phá sản ở Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu và đòi hỏi khách quan của nền kinh tế ở giác độ tái cấu trúc thị trường và đóng cửa doanh nghiệp.
- Giả thuyết 3: Việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật phá sản ở Việt Nam là cần thiết; một số giải pháp cụ thể có thể được sử dụng để nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật phá sản.
Câu hỏi nghiên cứu được luận án đặt ra:
- Bản chất của phá sản, pháp luật phá sản và thực thi pháp luật phá sản là gì?
- Thực trạng thực thi pháp luật phá sản ở Việt Nam như thế nào và rào cản của thực trạng này là gì?
- Các quy định của pháp luật phá sản Việt Nam hiện tại có đáp ứng được đòi hỏi của nền kinh tế không; việc hoàn thiện pháp luật cần những giải pháp cơ bản nào để nâng cao tính khả thi?
Phương pháp nghiên cứu cụ thể được phân bổ theo từng chương:
- Phương pháp phân tích quy phạm pháp luật thực định, phương pháp phân tích kinh tế luật, phương pháp luật học so sánh, phương pháp tổng hợp tư liệu: Được áp dụng chủ yếu tại Chương 2 nhằm làm rõ các vấn đề lý luận, xác định các ưu điểm của Luật Phá sản năm 2004 và so sánh với pháp luật của Hoa Kỳ, Cộng hòa Pháp và Trung Quốc.
- Phương pháp nghiên cứu trực tiếp qua khảo sát thực tế, phương pháp phỏng vấn chuyên gia, phương pháp điều tra khảo cứu tại Tòa án, phương pháp thu nạp các phân tích có sẵn và phân tích tổng hợp: Được áp dụng tại Chương 3 nhằm làm sáng tỏ thực trạng hoạt động của bộ máy thực thi, hoạt động của Tổ quản lý và thanh lý tài sản và các vướng mắc thực tiễn.
- Phương pháp phân tích và dự báo khoa học, phương pháp luật học so sánh và tổng hợp: Được sử dụng tại Chương 4 để luận giải và đề xuất các nhóm giải pháp nâng cao tính khả thi của pháp luật phá sản.
Nguồn tư liệu và dữ liệu của luận án bao gồm: Các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam (Luật Công ty 1990, Luật Doanh nghiệp tư nhân 1990, Luật Phá sản doanh nghiệp 1993, Nghị định 189/CP, Luật Phá sản 2004, Luật Phá sản 2014); các văn bản pháp luật nước ngoài của Hoa Kỳ, Pháp, Trung Quốc; số liệu báo cáo xếp hạng Doing Business của WB/IFC (năm 2008, 2012, 2014); số liệu thống kê xét xử phá sản của Tòa án nhân dân Tối cao (đến ngày 30/9/2012 và cập nhật đến ngày 28/02/2014); số liệu đăng ký và giải thể doanh nghiệp trong nước.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các công trình nghiên cứu về phá sản ở phạm vi quốc tế và Việt Nam. Tác giả phân tích các học thuyết nền tảng như học thuyết chính sách phá sản của Elizabeth Warren, học thuyết chia sẻ rủi ro của Thomas H. Jackson và Robert E., cũng như công trình của Michael Kim về sự vận hành của luật phá sản tại các nền kinh tế hậu xã hội chủ nghĩa ở Trung và Đông Âu. Tại Việt Nam, tác giả tổng thuật các nghiên cứu theo từng nhóm chuyên đề từ lý luận, luật so sánh, hoàn thiện thể chế đến thiết chế thi hành và bảo toàn tài sản phá sản. Chương này xác định khoảng trống nghiên cứu về thiết chế tổ chức thực thi, thiết lập 3 giả thuyết nghiên cứu, hệ thống câu hỏi nghiên cứu và khung phương pháp luận áp dụng cho toàn bộ luận án.
Chương 2: Kế thừa những ưu điểm của Luật Phá sản năm 2004 trong bối cảnh hoàn thiện pháp luật phá sản ở Việt Nam
Chương 2 tập trung phân tích nguồn gốc thuật ngữ, bản chất pháp lý và 4 vai trò cơ bản của pháp luật phá sản: bảo vệ nhà đầu tư/chủ nợ; bảo vệ quyền lợi người lao động; tổ chức lại doanh nghiệp và cơ cấu nền kinh tế; thiết lập trật tự kỷ cương xã hội. Về phân loại, luận án chia phá sản theo 3 tiêu chí: tính chất mất khả năng thanh toán (phá sản trung thực và phá sản gian trá); chủ thể nộp đơn (phá sản tự nguyện và phá sản bắt buộc); đối tượng áp dụng (phá sản doanh nghiệp, phá sản hợp tác xã và phá sản hộ kinh doanh).
Chương 2 chứng minh và bảo vệ 3 ưu điểm lớn của Luật Phá sản năm 2004 cần được kế thừa khi ban hành Luật Phá sản năm 2014:
- Về đối tượng áp dụng: Giới hạn đối tượng áp dụng ở doanh nghiệp và hợp tác xã (khoản 1 Điều 2), không mở rộng sang cá nhân hay hộ kinh doanh. Lý do: Hộ kinh doanh có quy mô nhỏ, không có vốn pháp định bắt buộc, chế độ tài chính kế toán chưa hoàn chỉnh, chịu trách nhiệm vô hạn và pháp luật Việt Nam chưa có cơ chế miễn trừ trách nhiệm cá nhân; các tranh chấp tài sản của đối tượng này đã được điều chỉnh bởi Bộ luật Dân sự và Bộ luật Hình sự; việc mở rộng sẽ làm quá tải hệ thống Tòa án chưa hoàn thiện.
- Về thẩm quyền của Tòa án: Phân định thẩm quyền giải quyết cho cả Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp huyện (Điều 7). TAND cấp huyện có thẩm quyền giải quyết thủ tục phá sản đối với hợp tác xã đăng ký kinh doanh tại cấp huyện. Quy định này phù hợp với định hướng tăng thẩm quyền xét xử cho Tòa án cấp huyện và giảm tải cho Tòa án cấp tỉnh.
- Về phạm vi điều chỉnh và thủ tục phục hồi: Quy định thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh song song với thủ tục thanh lý (Điều 1). Phục hồi hoạt động kinh doanh phản ánh bản chất bảo vệ quyền lợi của con nợ và chủ nợ, phù hợp với xu hướng lập pháp quốc tế (như Chương 11 Luật Phá sản Hoa Kỳ, Luật Phá sản Pháp 1985/2005) và chủ trương tái cơ cấu kinh tế của Việt Nam. Luật Phá sản năm 2004 cũng đã dự liệu cơ chế linh hoạt cho phép chuyển thẳng sang thủ tục thanh toán hoặc tuyên bố phá sản rút gọn nếu doanh nghiệp không có khả năng phục hồi hoặc không còn tài sản.
Chương này cũng phân tích kinh nghiệm lập pháp của Hoa Kỳ (phá sản cá nhân theo Chương 7, Chương 13; tái cơ cấu nợ doanh nghiệp theo Chương 11 với cơ chế người vay nợ bị khống chế - debtor in possession), Cộng hòa Pháp (Luật 1985, Luật số 94-975 năm 1994, Luật năm 2005 về doanh nghiệp trong tình trạng khó khăn với 3 thủ tục: cứu doanh nghiệp, phục hồi và thanh lý), và Trung Quốc (Luật năm 1986 áp dụng riêng cho DNNN, Luật năm 2006 mở rộng cho mọi loại hình doanh nghiệp).
Chương 3: Đánh giá thực trạng thi hành pháp luật phá sản ở Việt Nam
Chương 3 đi sâu đánh giá thực tiễn thi hành Luật Phá sản năm 2004 qua các thiết chế và quy định nội dung cụ thể:
- Về bộ máy thực thi và Tổ quản lý, thanh lý tài sản: Phân tích cơ chế hoạt động kiêm nhiệm của Tổ quản lý, thanh lý tài sản (gồm Chấp hành viên, cán bộ Tòa án, đại diện chủ nợ, con nợ...). Luận án chỉ ra thiết chế này thiếu tính độc lập tương đối với Tòa án, thiếu tính chuyên nghiệp so với mô hình Quản tài viên (Trustee) quốc tế, dẫn đến tình trạng chậm trễ, ách tắc trong quá trình quản lý và xử lý tài sản phá sản.
- Về thực tiễn thi hành các quy định cụ thể:
- Tiêu chí xác định doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản: Những bất cập trong việc nhận diện thời điểm và mức độ mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn.
- Chủ thể có quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản: Những vướng mắc về điều kiện thụ lý đơn của chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần, người lao động và nghĩa vụ nộp đơn của đại diện hợp pháp của doanh nghiệp.
- Tài sản phá sản và bảo toàn tài sản: Vướng mắc trong việc kiểm kê, xác định giá trị tài sản, thu hồi các giao dịch bị coi là vô hiệu, xử lý tài sản bảo đảm và các biện pháp khẩn cấp tạm thời.
- Phá sản đối với các doanh nghiệp đặc biệt: Đánh giá tính đặc thù trong thủ tục phá sản đối với các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp trực tiếp phục vụ an ninh, quốc phòng và doanh nghiệp cung ứng dịch vụ công ích thiết yếu.
Chương 4: Phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường tính khả thi của Luật Phá sản
Chương 4 đề xuất định hướng và hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật phá sản:
- Phương hướng cơ bản: Hoàn thiện pháp luật phá sản phải gắn liền với quá trình tái cơ cấu nền kinh tế và cải cách tư pháp; đảm bảo sự đồng bộ giữa luật nội dung và luật hình thức (thủ tục tố tụng phá sản); tiếp thu có chọn lọc các chuẩn mực quốc tế phù hợp với điều kiện kinh tế chuyển đổi của Việt Nam.
- Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách: Nâng cao nhận thức xã hội về phá sản; hoàn thiện cơ chế thị trường và môi trường thông tin tài chính, kế toán, kiểm toán minh bạch để nhận diện sớm nguy cơ vỡ nợ; tạo cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp rút khỏi thị trường có trật tự.
- Nhóm giải pháp về tổ chức bộ máy thực thi: Kiện toàn tổ chức Tòa Kinh tế và nâng cao năng lực đội ngũ Thẩm phán chuyên trách phá sản; chuyên nghiệp hóa chế định Quản tài viên và doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản độc lập thay thế cho mô hình Tổ quản lý, thanh lý tài sản kiêm nhiệm; tăng cường phối hợp giữa cơ quan Tòa án, Thi hành án dân sự và các cơ quan hành chính liên quan.
- Nhóm giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật phá sản: Kế thừa các ưu điểm đã được khẳng định của Luật Phá sản năm 2004 (về đối tượng áp dụng là doanh nghiệp và HTX; phân định thẩm quyền TAND cấp huyện; giữ vững và tinh giản thủ tục phục hồi); đồng thời khắc phục các hạn chế về tiêu chí mở thủ tục phá sản, đơn giản hóa thủ tục thụ lý đơn, quy định rõ ràng thẩm quyền xử lý giao dịch vô hiệu và phân định thứ tự ưu tiên thanh toán tài sản. Luận án cũng đưa ra một số đề xuất bổ trợ cho việc triển khai Luật Phá sản năm 2014 chuẩn bị có hiệu lực từ ngày 01/01/2015.
Kết quả và những đóng góp mới
Các kết quả và đóng góp mới của luận án được chính tác giả xác định cụ thể:
- Về mặt lý luận: Luận án hệ thống hóa một cách tổng quan các công trình nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước liên quan đến phá sản và thực thi pháp luật phá sản; làm rõ hơn các vấn đề lý luận về phá sản và pháp luật phá sản theo đặc thù Việt Nam; phân tích, đánh giá và khẳng định các ưu điểm nổi bật của Luật Phá sản năm 2004 cần được kế thừa; đồng thời so sánh đối chiếu với pháp luật của Hoa Kỳ, Cộng hòa Pháp và Trung Quốc để rút ra bài học kinh nghiệm.
- Về mặt thực tiễn: Luận án phân tích, đánh giá thực trạng thi hành pháp luật phá sản tại Việt Nam thông qua thiết chế thực thi và tính khả thi của các quy định thuộc Luật Phá sản năm 2004, làm rõ các điểm nghẽn khiến số lượng quyết định tuyên bố phá sản trên thực tế đạt tỷ lệ rất thấp so với quy mô nền kinh tế.
- Về mặt giải pháp: Luận án đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao tính khả thi của pháp luật phá sản, bao gồm 3 nhóm giải pháp chính:
- Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách.
- Nhóm giải pháp về tổ chức bộ máy thực thi pháp luật phá sản (chú trọng hoàn thiện Tòa Kinh tế và chuyên nghiệp hóa chủ thể quản lý, thanh lý tài sản).
- Nhóm giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật phá sản trên cơ sở kế thừa những ưu điểm và khắc phục những hạn chế của Luật Phá sản năm 2004, đóng góp ý kiến hoàn thiện cho việc áp dụng Luật Phá sản năm 2014.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, do giới hạn phạm vi nghiên cứu, luận án chỉ tập trung vào các vấn đề lý luận và thực tiễn thực thi pháp luật phá sản doanh nghiệp và hợp tác xã từ năm 2004 đến đầu năm 2014, không mở rộng sang phạm vi phá sản cá nhân hay hộ kinh doanh. Phạm vi nghiên cứu luật so sánh chỉ dừng lại ở ba quốc gia đại diện là Hoa Kỳ, Cộng hòa Pháp và Trung Quốc.
Về hướng nghiên cứu tiếp, việc theo dõi, đánh giá tác động thực tế của Luật Phá sản năm 2014 sau khi có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015 là hướng đi cần thiết, đặc biệt là sự vận hành của thiết chế Quản tài viên mới và khả năng xem xét mở rộng đối tượng áp dụng sang các chủ thể kinh doanh khác khi các thiết chế bổ trợ tư pháp tại Việt Nam đạt mức độ hoàn thiện cao hơn.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo cho:
- Cơ quan lập pháp và cơ quan quản lý nhà nước: Cung cấp luận cứ khoa học và cơ sở thực tiễn cho việc xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Phá sản năm 2014 và hoạch định chính sách kinh tế - tư pháp liên quan đến việc rút khỏi thị trường của doanh nghiệp.
- Hệ thống Tòa án nhân dân và Thẩm phán chuyên trách: Cung cấp các phân tích thực tiễn và giải pháp nghiệp vụ trong quá trình thụ lý, giải quyết thủ tục phục hồi và tuyên bố phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.
- Đội ngũ Quản tài viên, luật sư, chuyên gia tư pháp: Tham khảo kinh nghiệm so sánh quốc tế về xử lý tài sản phá sản và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan.
- Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật Kinh tế: Sử dụng làm tài liệu nghiên cứu chuyên khảo về lý thuyết phá sản, lịch sử lập pháp phá sản Việt Nam và phương pháp nghiên cứu luật học so sánh.
Câu hỏi thường gặp
-
Vì sao tác giả cho rằng không nên mở rộng đối tượng áp dụng của Luật Phá sản sang hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh?
Tác giả chỉ ra 3 nguyên nhân: Thứ nhất, hộ kinh doanh và cá nhân có quy mô nhỏ, không có vốn pháp định, chế độ kế toán yếu kém, chịu chế độ trách nhiệm vô hạn trong khi pháp luật Việt Nam chưa có quy chế miễn trách nhiệm cá nhân sau phá sản. Thứ hai, việc giải quyết mất khả năng thanh toán của các đối tượng này đã có Bộ luật Dân sự và Bộ luật Hình sự điều chỉnh; nếu đưa vào luật phá sản có thể tạo kẽ hở trục lợi, trốn tránh trách nhiệm. Thứ ba, hệ thống Tòa án và các tổ chức bổ trợ tư pháp (giám định, công chứng, thừa phát lại) chưa đủ điều kiện tiếp nhận lượng vụ việc lớn, dễ dẫn đến quá tải.
-
Luận án chứng minh sự cần thiết của việc duy trì thẩm quyền giải quyết phá sản của Tòa án nhân dân cấp huyện như thế nào?
Luận án lập luận rằng TAND cấp huyện theo Luật Phá sản năm 2004 chỉ giải quyết các hợp tác xã đăng ký kinh doanh tại cấp huyện, không làm phức tạp hóa toàn bộ hệ thống; đồng thời việc giữ thẩm quyền này phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước về tăng thẩm quyền tư pháp cho cấp huyện, giúp giảm tải nguy cơ quá tải cho TAND cấp tỉnh khi số lượng doanh nghiệp yêu cầu phá sản tăng lên trong tương lai.
-
Thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh có vai trò gì và vì sao cần kế thừa từ Luật Phá sản năm 2004?
Thủ tục phục hồi tạo cơ hội cho doanh nghiệp tái cơ cấu tổ chức, đổi mới sản xuất để tiếp tục duy trì hoạt động và tạo nguồn thu trả nợ đầy đủ hơn cho chủ nợ, giảm thiểu tổn thất xã hội và thất nghiệp; phù hợp với chủ trương tái cơ cấu nền kinh tế; đồng thời không làm kéo dài thời gian vì luật đã quy định cơ chế chuyển thẳng sang thủ tục thanh lý hoặc tuyên bố phá sản rút gọn đối với trường hợp không thể phục hồi.
-
Số liệu thống kê thực tế thi hành Luật Phá sản năm 2004 phản ánh thực trạng gì của hệ thống Tòa án Việt Nam?
Từ ngày 15/10/2004 đến ngày 28/02/2014, toàn bộ hệ thống Tòa án chỉ nhận được 620 đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, ra được 331 quyết định mở thủ tục và chỉ tuyên bố phá sản 95 doanh nghiệp (bình quân chưa tới 10 vụ/năm trên toàn quốc). Con số này quá thấp so với số lượng hàng chục ngàn doanh nghiệp rút khỏi thị trường mỗi năm, chứng minh luật phá sản vận hành chưa hiệu quả và chưa phản ánh đúng thực tế kinh tế.
-
Kinh nghiệm từ các học thuyết quốc tế và pháp luật nước ngoài được luận án rút ra là gì?
Luận án tiếp thu quan điểm của Elizabeth Warren về vai trò xã hội của pháp luật phá sản; lý thuyết của Jackson và Robert E. về chia sẻ rủi ro và tối đa hóa giá trị tài sản; bài học từ nghiên cứu của Michael Kim về việc lựa chọn mô hình phá sản thận trọng ở các nền kinh tế chuyển đổi; kinh nghiệm trao quyền tự quản lý nợ (debtor in possession) theo Chương 11 của Hoa Kỳ và mô hình 3 thủ tục xử lý khó khăn doanh nghiệp của Pháp năm 2005.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Ngọc Thắng đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về phá sản, khẳng định các ưu điểm cốt lõi của Luật Phá sản năm 2004 về đối tượng áp dụng, phân định thẩm quyền Tòa án và thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh cần được kế thừa trong Luật Phá sản năm 2014. Qua việc phân tích thực trạng giải quyết phá sản giai đoạn 2004–2014, công trình chỉ rõ những rào cản từ bộ máy thực thi kiêm nhiệm và các hạn chế trong tố tụng phá sản. Luận án đã đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ về cơ chế, tổ chức bộ máy và hoàn thiện quy phạm pháp luật nhằm nâng cao tính khả thi của pháp luật phá sản trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.