mở đầu Bao gồm: a) Nêu rõ tên đơn vị có BCTC được kiểm toán; b) Nêu rõ rằng BCTC đã được kiểm toán; c) Nêu rõ tiêu đề của từng báo cáo cấu thành bộ BCTC; d) Tham chiếu đến phần tóm tắt các chính sách kế toán quan trọng và các thuyết minh khác; và e) Nêu rõ ngày kết thúc kỳ kế toán hoặc kỳ kế toán của từng báo cáo cấu thành bộ BCTC; Trách nhiệm của Ban giám đốc đối với BCTC Mục này trong BCKT mô tả trách nhiệm của những người chịu trách nhiệm lập và trình bày BCTC tại đơn vị được kiểm toán. BCKT không nhất thiết phải đề cập một TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 cách cụ thể đến “Ban Giám đốc” mà sẽ sử dụng thuật ngữ thích hợp, tùy thuộc vào từng trường hợp. BCKT phải bao gồm một mục có tiêu đề là “Trách nhiệm của Ban Giám đốc (hay một thuật ngữ thích hợp khác)”. BCKT phải mô tả trách nhiệm của Ban Giám đốc trong việc lập và trình bày BCTC, trong đó giải thích thêm rằng Ban Giám đốc chịu trách nhiệm lập và trình bày BCTC theo khuôn khổ về lập và trình bày BCTC được áp dụng, và chịu trách nhiệm về KSNB mà Ban Giám đốc xác định là cần thiết để đảm bảo cho việc lập và trình bày BCTC không có sai sót trọng yếu do gian lận hoặc do nhầm lẫn.
Trong trường hợp BCTC được lập theo khuôn khổ về trình bày hợp lý, phần giải thích về trách nhiệm của Ban Giám đốc đối với BCTC trong BCKT phải đề cập đến “trách nhiệm lập và trình bày trung thực và hợp lý BCTC của Công ty”. Trách nhiệm của KTV BCKT phải bao gồm một mục có tiêu đề là “Trách nhiệm của KTV”. BCKT phải nêu rõ trách nhiệm của KTV là đưa ra ý kiến về BCTC dựa trên kết quả cuộc kiểm toán. BCKT phải nêu rõ rằng công việc kiểm toán đã được tiến hành theo các ISA.
BCKT cũng phải giải thích rằng các chuẩn mực đó yêu cầu KTV phải tuân thủ chuẩn mực và các quy định về đạo đức nghề nghiệp, phải lập kế hoạch và thực hiện cuộc kiểm toán để đạt được sự đảm bảo hợp lý về việc BCTC có còn sai sót trọng yếu hay không. BCKT phải mô tả về cuộc kiểm toán bằng cách nêu rõ: (a) Công việc kiểm toán bao gồm thực hiện các thủ tục để thu thập các bằng chứng kiểm toán về các số liệu và thuyết minh trên BCTC; (b) Các thủ tục kiểm toán được lựa chọn dựa trên xét đoán của KTV, bao gồm đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu trong BCTC, do gian lận hoặc nhầm lẫn. Khi thực hiện đánh giá rủi ro, KTV xem xét KSNB của đơn vị liên quan đến việc lập và trình bày BCTC trung thực, hợp lý nhằm thiết kế các thủ tục kiểm toán phù hợp với tình hình TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 15 thực tế, tuy nhiên không nhằm mục đích đưa ra ý kiến về tính hữu hiệu của KSNB của đơn vị. Trong trường hợp KTV cũng có trách nhiệm đưa ra ý kiến về tính hữu hiệu của KSNB cùng với việc kiểm toán BCTC, KTV sẽ bỏ đi đoạn nói rằng việc KTV xem xét KSNB không nhằm mục đích đưa ra ý kiến về tính hữu hiệu của KSNB của đơn vị; (c) Công việc kiểm toán cũng bao gồm việc đánh giá tính thích hợp của các chính sách kế toán được áp dụng và tính hợp lý của các ước tính kế toán của Ban Giám đốc cũng như đánh giá việc trình bày tổng thể BCTC.
Trong trường hợp BCTC được lập theo khuôn khổ về trình bày hợp lý, phần mô tả về cuộc kiểm toán trong BCKT phải đề cập đến “trách nhiệm lập và trình bày trung thực và hợp lý các BCTC của đơn vị”. BCKT phải nêu rõ liệu KTV có tin tưởng rằng các bằng chứng kiểm toán mà KTV đã thu thập được là đầy đủ và thích hợp để làm cơ sở đưa ra ý kiến kiểm toán hay không. Ý kiến của KTV Khi đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần đối với BCTC được lập theo khuôn khổ về tuân thủ, ý kiến kiểm toán phải nêu rõ là BCTC đã được lập, trên các khía cạnh trọng yếu, tuân thủ khuôn khổ về lập và trình bày BCTC được áp dụng. Nếu khuôn khổ về lập và trình bày BCTC được áp dụng được đề cập đến trong ý kiến kiểm toán không phải là chuẩn mực lập và trình bày BCTC quốc tế do Uỷ ban CMKT Quốc tế ban hành thì ý kiến kiểm toán phải chỉ rõ nước ban hành ra khuôn khổ về lập và trình bày BCTC đó.
Căn cứ vào ISA hiện hành, mục tiêu của KTV là đưa ra ý kiến kiểm toán về BCTC trên cơ sở đánh giá các kết luận rút ra từ bằng chứng kiểm toán thu thập được và trình bày ý kiến kiểm toán một cách rõ ràng bằng văn bản, trong đó nêu rõ cơ sở của ý kiến đó. Tính trọng yếu là sự cân nhắc chủ yếu khi KTV hình thành ý kiến kiểm toán. Thông tin được coi là trọng yếu có nghĩa là nếu thiếu thông tin đó hoặc thiếu tính chính xác của thông tin đó sẽ ảnh hưởng đến các quyết định kinh tế của người sử dụng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Đánh giá tính trọng yếu phụ thuộc vào xét đoán của KTV, đây là một việc thật sự khó khăn.
Theo ISA’s phân biệt bốn loại ý kiến kiểm toán: - Ý kiến chấp nhận toàn phần: Là ý kiến được đưa ra khi KTV kết luận rằng BCTC đã được lập trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày BCTC được áp dụng. Trong dạng ý kiến chấp nhận toàn phần có thêm dạng ý kiến chấp nhận toàn phần có đoạn nhấn mạnh hoặc đoạn vấn đề khác khi muốn lưu ý người đọc BCTC về một vấn đề không ảnh hưởng đến ý kiến của KTV. - Ý kiến kiểm toán ngoại trừ: Dựa trên các bằng chứng kiểm toán đầy đủ, thích hợp đã thu thập được, KTV kết luận là các sai sót, xét riêng lẻ hay tổng hợp lại, có ảnh hưởng trọng yếu nhưng không lan tỏa đối với BCTC; hoặc KTV không thể thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp để làm cơ sở đưa ra ý kiến kiểm toán, nhưng KTV kết luận rằng những ảnh hưởng có thể có của các sai sót chưa được phát hiện (nếu có) có thể là trọng yếu nhưng không lan tỏa đối với BCTC. - Ý kiến kiểm toán trái ngược: khi dựa trên các bằng chứng kiểm toán đầy đủ, thích hợp đã thu thập được, KTV kết luận là các sai sót, xét riêng lẻ hay tổng hợp lại, có ảnh hưởng trọng yếu và lan tỏa đối với BCTC.
- Từ chối đưa ra ý kiến: khi KTV không thể thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp để làm cơ sở đưa ra ý kiến kiểm toán và KTV kết luận rằng những ảnh hưởng có thể có của các sai sót chưa được phát hiện (nếu có) có thể là trọng yếu và lan tỏa đối với BCTC. Các trách nhiệm báo cáo khác Trong BCKT về BCTC, nếu KTV nêu thêm các trách nhiệm báo cáo khác ngoài trách nhiệm của KTV là báo cáo về BCTC, các trách nhiệm báo cáo khác này phải được nêu trong một phần riêng trong BCKT. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 17 Chữ ký của KTV Chữ ký của KTV là tên của công ty kiểm toán hoặc tên cá nhân của KTV hoặc cả hai. Ngày của BCKT Ngày lập BCKT không được trước ngày mà KTV thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp để làm cơ sở đưa ra ý kiến kiểm toán về BCTC.
Địa chỉ của KTV BCKT phải ghi rõ địa chỉ nơi KTV thực hiện kiểm toán.3 Một vài nghiên cứu liên quan đến thông tin trên BCKT về BCTC trên thế giới Phần này cung cấp một cái nhìn tổng quát về các nghiên cứu thực tiễn đã được thực hiện trên thế giới liên quan đến thông tin trên BCKT.1 Các nghiên cứu liên quan đến thông tin trên BCKT Nghiên cứu của Mock và các cộng sự (2009) Trong “BCKT chấp nhận toàn phần: một cuộc nghiên cứu về nhận thức của người sử dụng, những ảnh hưởng đến quyết định và tiến trình ra quyết định, và các định hướng cho những nghiên cứu tiếp theo” đã báo cáo kết quả điều tra của họ về nhận thức của người sử dụng về BCKT chấp nhận toàn phần và những ảnh hưởng của nó đến sự xét đoán của người sử dụng. Nghiên cứu đã thực hiện khảo sát trên các nhóm bao gồm những người lập BCTC, các nhân viên tín dụng ngân hàng, các nhà phân tích tài chính, các nhà đầu tư không chuyên và các KTV. 53 cá nhân đã tham gia trong nghiên cứu này. Một vấn đề chính mà Mock và các cộng sự đã nhận biết được qua nghiên cứu là việc hiểu sai về mức độ đảm bảo có ý muốn truyền đạt trong BCKT.
Về việc phản ảnh KSNB, nhìn chung các nhóm tham gia đã không thừa nhận rằng ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phần chỉ định điều gì về chất lượng của KSNB. Tuy nhiên, một vài nhóm đã đề nghị rằng chất lượng của KSNB nên được thể hiện rõ ràng trên BCKT. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 18 Nghiên cứu của Porter và các cộng sự (2009) B. Ó hO1gartaigh, và R.
Baskerville (2009) đã nghiên cứu khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán ở Anh và New Zealand. Họ cũng thực hiện một cuộc nghiên cứu thực nghiệm để nhận biết nhận thức của người sử dụng BCTC về các nội dung trên BCKT. Porter và các cộng sự (2009, 187) nhận thấy rằng nội dung của BCKT đã không tạo nên sự khác biệt trong việc hiểu của người sử dụng BCTC về trách nhiệm của Ban giám đốc, trách nhiệm của KTV và bản chất của quy trình kiểm toán. Một phần của nghiên cứu người trả lời được yêu cầu để xác định các mục quan trọng nhất trên BCKT.
Những mục quan trọng nhất được đề cập là: - Ý kiến “trung thực và hợp lý” của KTV; - Báo cáo của Ban giám đốc và trách nhiệm của KTV đối với BCTC; - Nhận dạng công ty kiểm toán thực hiện cuộc kiểm toán; và - Ý kiến không phải là chấp nhận toàn phần và lý do. Nghiên cứu của Gold và các cộng sự (2009) A. Pott (2009) đã thực hiện một nghiên cứu thực nghiệm để tìm hiểu nhận thức của người sử dụng BCTC về trách nhiệm của nhà quản lý, trách nhiệm của KTV và độ tin cậy của BCTC được kiểm toán. Mục đích chính của nghiên cứu này là rút ngắn có thể khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán dưới BCKT theo ISA 700 được sửa đổi.