Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỀN VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cơ sở lý luận về kiểm tra nội bộ tại các NHTM 1. Khái niệm kiểm tra nội bộ Kiểm tra là một trong các chức năng của quy trình quản lý. Thông qua chức năng kiểm tra mà chủ thể quản lý nắm bắt và điều chỉnh kịp thời các hoạt động để thực hiện tốt các mục tiêu đã định.
Có nhiều quan niệm khác nhau về kiểm tra trong quản lý: - Theo tác giả Harold Koontz: Kiểm tra là đo lường, chấn chỉnh các hoạt động của bộ phận cấp dưới, để tin chắc rằng các mục tiêu và các kế hoạch thực hiện mục tiêu đó đang được hoàn thành (Harold Koontz, 1993). - Theo tác giả Kenneth A.Merchant: Kiểm tra bao gồm tất cả các hoạt động mà nhà quản trị thực hiện để đảm bảo chắc chắn rằng các kết quả thực tế sẽ đúng như kết quả dự kiến trong kế hoạch (Kenneth A. - Theo tác giả Robert J.Mockler: Kiểm tra là quản trị, là một nỗ lực có hệ thống, nhằm thiết lập những hệ thống, những phản hồi thông tin, nhằm so sánh những kết quả thực hiện với định mức đã đề ra và để đảm bảo rằng các nguồn lực đang được sử dụng có hiệu quả nhất, để đạt được mục tiêu của tổ chức (Robert J. - Theo tác giả Nguyễn Hữu Luận, Khoa Nhà nước và Pháp luật - Học viện Hành chính Quốc gia (2009): Kiểm tra là một khái niệm rộng, được thể hiện ở nhiều góc độ như: + Kiểm tra là hoạt động thường xuyên của từng cơ quan, tổ chức nhằm đảm bảo thực hiện nhiệm vụ của chính mình.
Qua kiểm tra các cơ quan, tổ chức đánh giá đúng mực việc làm của mình từ đó đề ra chủ trương, biện pháp, phương hướng hoạt động tiếp theo một cách hợp lý hơn. Trong trường hợp này, kiểm tra mang ý nghĩa xem xét, nhìn lại việc làm của chính mình để tự điều chỉnh, hay tìm biện pháp thực hiện nhiệm vụ tốt hơn, hiệu quả hơn; + Kiểm tra là hoạt động của cơ quan, tổ chức, thủ trưởng cấp trên với cấp dưới của mình nhằm đánh giá mọi mặt hoặc từng vấn đề do cấp dưới đã thực hiện. 6 Trong trường hợp này, kiểm tra thực hiện trong quan hệ trực thuộc, vì thế cơ quan hoặc thủ trưởng cấp trên sau khi kiểm tra có quyền áp dụng các biện pháp như biểu dương, khen thưởng khi cấp dưới làm tốt hoặc các biện pháp cưỡng chế để xử lý đối với cấp dưới khi họ có khuyết điểm hoặc vi phạm pháp luật; + Kiểm tra là hoạt động của các cơ quan Đảng, các tổ chức xã hội, các tổ chức quần chúng tham gia hoạt động giám sát công việc hành chính Nhà nước. Trong trường hợp này, kiểm tra hầu như không mang tính quyền lực Nhà nước; không trực tiếp áp dụng các biện pháp cưỡng chế mà chỉ tác động đến hoạt động quản lý Nhà nước bằng những biện pháp mang tính xã hội.
Từ những quan niệm trên có thể thấy kiểm tra được hiểu là việc xác lập các tiêu chuẩn, đo lường các kết quả để phát hiện ưu điểm, nhược điểm, từ đó đề ra các giải pháp để phát huy ưu điểm, sửa chữa, điều chỉnh những lệch lạc, sai lầm, nhằm đảm bảo tổ chức vận hành theo đúng mục tiêu. Từ các quan niệm về kiểm tra trong quản lý, ta có khái niệm về hoạt động KTNB như sau: Kiểm tra nội bộ là quá trình xem xét các hoạt động nhằm mục đích làm cho các hoạt động đạt kết quả tốt hơn, đồng thời, kiểm tra nội bộ nhằm phát hiện sự sai lệch và nguyên nhân sự sai lệch, trên cơ sở đó đưa ra biện pháp điều chỉnh kịp thời nhằm khắc phục sự sai lệch, đảm bảo hoạt động đạt được mục tiêu của nó. Đặc điểm của kiểm tra nội bộ trong quản lý - Kiểm tra là một quá trình; - Kiểm tra là một chức năng của quy trình quản lý; - Kiểm tra thể hiện quyền hạn và trách nhiệm của nhà quản lý đối với hiệu lực và hiệu quả của tổ chức; - Kiểm tra là một quy trình mang tính phản hồi (GS. Vương Đình Huệ, 2004).
- Các kết luận trong kiểm tra nội bộ nhằm uốn nắn và giúp đỡ tổ chức trong nội bộ; Đánh giá và phục vụ cho công tác khen thưởng, trách phạt của đơn vị. - Hoạt động KTNB do thủ trưởng cơ quan trực tiếp ra quyết định thành lập, tổ chức thực hiện. 7 Những đặc điểm khác biệt KTNB với kiểm tra chay ở ngân hàng đó là: - Về cơ chế hoạt động: NHPT hoạt động theo Nghị định của Chính phủ. Mục tiêu kinh doanh của NHPT là không vì mục đích lợi nhuận, các NHTM mục tiêu kinh doanh là vì lợi nhuận; tỷ lệ dự trữ bắt buộc của NHPT bằng 0% và không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi.
Hoạt động của NHPT tuân thủ theo quy định của Luật ngân sách Nhà nước, Luật các TCTD, Luật doanh nhiệp. - Về nguồn vốn: Nguồn vốn để cho vay chủ yếu là vốn ngân sách và có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước, hoặc huy động theo kế hoạch của Nhà nước để phục vụ mục tiêu đầu tư phát triển và xuất khẩu theo chủ trương của Nhà nước; - Về đối tượng cho vay: Đối tượng là các dự án, chương trình mục tiêu của Nhà nước nằm trong chiến lược phát triển tổng thể kinh tế - xã hội do Nhà nước xác định chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực then chốt, cần thiết có tác động đến tăng trưởng kinh tế hoặc các vùng khó khăn, đặc biệt khó khăn, các đối tượng xã hội cần có sự đầu tư của Nhà nước để thực hiện các chính sách xã hội; - Về lãi suất: Lãi suất cho vay là lãi suất ưu đãi, do Nhà nước quyết định phù hợp với từng thời kỳ và thấp hơn lãi suất cho vay của NHTM trên cùng thời kỳ… 1. Vai trò của kiểm tra nội bộ trong quản lý - Kiểm tra đóng vai trò quan trọng trong quản lý. Cụ thể: Thông qua kiểm tra mà nhà quản lý nắm được tiến độ, mức độ thực hiện công việc của các thành viên trong một bộ phận của tổ chức và của các bộ phận trong một tổng thể của cơ cấu tổ chức; Thông qua kiểm tra người quản lý nắm và kiểm soát được chất lượng các công việc được hoàn thành, từ đó phát hiện những ưu điểm và hạn chế trong toàn bộ hoạt động của tổ chức và quy trình quản lý, từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp hướng tới mục tiêu.
* Các loại hình kiểm tra: Gồm kiểm tra trước khi hoạt động xảy ra, kiểm tra trong khi thực hiện và kiểm tra sau khi thực hiện. - Kiểm tra lường trước: Kiểm tra từ trước khi hoạt động xảy ra, bằng cách tiên liệu những vấn đề có thể xảy ra để ngăn chặn trước. Giúp cho tổ chức thực hiện kế hoạch chính xác, dự liệu được những vấn đề có thể ảnh hưởng từ thời điểm lên 8 kế hoạch cho đến khi thực hiện. Kiểm tra lường trước dựa vào dự báo, dự đoán về sự biến đổi của môi trường; - Kiểm tra trong khi thực hiện: Bằng cách theo dõi trực tiếp diễn biến trong quá trình thực hiện kế hoạch.
Mục đích là nhằm kịp thời tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn trở ngại khi thực hiện để đảm bảo tiến độ dự kiến; - Kiểm tra sau khi thực hiện: Bằng cách đối chiếu kết quả thực hiện với kế hoạch và mục tiêu ban đầu. Mục đích nhằm đánh giá toàn bộ quá trình thực hiện kế hoạch, rút kinh nghiệm. Nhược điểm của loại hình kiểm tra này là độ trễ về thời gian (GS. Vương Đình Huệ, 2004).
Quy trình thực hiện hoạt động kiểm tra nội bộ 1. Lập, phê duyệt, thông báo kế hoạch kiểm tra nội bộ Hàng năm, các Ngân hàng và các Chi nhánh phải lập kế hoạch KTNB đối với các đơn vị thuộc thẩm quyền quản lý của mình. Nội dung chủ yếu của kế hoạch kiểm tra nội bộ hàng năm bao gồm: - Các đơn vị dự kiến được kiểm tra; - Thời gian tiến hành kiểm tra đối với từng đơn vị; - Nội dung kiểm tra; - Thành phần tham gia thực hiện kiểm tra (bao gồm đơn vị chủ trì và đơn vị phối hợp). Điều chỉnh kế hoạch kiểm tra nội bộ Trường hợp có sự thay đổi về cơ cấu tổ chức bộ máy hoặc điều chỉnh về chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị, có ảnh hưởng lớn đến khả năng hoàn thành nhiệm vụ kiểm tra, Tổng Giám đốc và Giám đốc các Chi nhánh điều chỉnh kế hoạch kiểm tra nội bộ cho phù hợp.
Đề cương kiểm tra Đề cương kiểm tra được xây dựng tuỳ theo tính chất, mục tiêu, yêu cầu của từng cuộc kiểm tra, nhưng phải thể hiện được các nội dung cơ bản: - Căn cứ để kiểm tra; - Phạm vi kiểm tra; - Nội dung kiểm tra; 9 - Thời gian kiểm tra; - Phương pháp tổ chức thực hiện kiểm tra. Thành lập Đoàn kiểm tra, Tổ kiểm tra Đoàn kiểm tra, Tổ kiểm tra được thành lập để thực hiện nhiệm vụ kiểm tra nội bộ theo kế hoạch hoặc kiểm tra đột xuất. Tổng Giám đốc các Ngân hàng thành lập Đoàn kiểm tra để thực hiện công việc kiểm tra đối với tất cả các đơn vị trong hệ thống. Giám đốc các Chi nhánh thành lập Tổ kiểm tra để thực hiện công việc tự kiểm tra của Chi nhánh.
Thông báo kiểm tra Các cuộc kiểm tra của Hội sở chính và của các Chi nhánh chỉ được tiến hành khi có thông báo kiểm tra bằng văn bản. Thông báo kiểm tra phải được gửi tới đối tượng kiểm tra ít nhất 03 ngày làm việc trước khi bắt đầu cuộc kiểm tra, trừ trường hợp kiểm tra đột xuất. Thời hạn tiến hành kiểm tra Thời hạn tiến hành một cuộc kiểm tra của các Chi nhánh do Giám đốc Chi nhánh quyết định, phù hợp với yêu cầu của công việc kiểm tra và tình hình thực tế của Chi nhánh, nhưng phải đảm bảo về thời gian báo cáo kết quả kiểm tra theo quy định. Phiếu kiểm tra Kết thúc từng phần công việc thuộc nội dung kiểm tra, các thành viên Đoàn kiểm tra, Tổ kiểm tra phải lập phiếu kiểm tra về phần việc được phân công thực hiện.
Biên bản kiểm tra Kết thúc cuộc kiểm tra, Đoàn kiểm tra, Tổ kiểm tra và đối tượng kiểm tra phải cùng nhau lập biên bản kiểm tra.