Chương 1: MỘT SỐ VẤ ĐỀ LÝ LUẬ CƠ BẢ VỀ HUY ĐỘ G VỐ CỦA GÂ HÀ G THƯƠ G MẠI 1. Tổng quan về gân hàng thương mại 1. Khái niệm về HTM N gân hàng thương mại đã hình thành, tồn tại và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá. Sự phát triển hệ thống N HTM đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị trường thì N HTM cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được.
N HTM đóng vai trò làm môi giới trung gian cho sự gặp gỡ giữa cung và cầu tiền tệ thông qua việc huy động vốn tạm thời nhàn rỗi từ dân cư và các tổ chức trong xã hội rồi cho vay lại đối với các tổ chức, cá nhân đang có nhu cầu và cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế. Cho đến thời điểm hiện nay có rất nhiều khái niệm về N HTM (Lý Hoàng Ánh và nnk, 2012; Phan Thị Thu Hà, 2013). Theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 của Việt N am thì “N gân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm N HTM, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã”.
Trong đó “N HTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận” (Quốc hội, 2020). Từ những nhận định trên có thể thấy N HTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán. N goài ra, N HTM 7 còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu về sản phNm dịch vụ của xã hội. Chức năng của HTM Theo Lý Hoàng Ánh và nnk (2012), N gân hàng thương mại có các chức năng chủ yếu sau đây: 1.
Chức năng trung gian tín dụng Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của N HTM. Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, N HTM đóng vai trò như là cầu nối giữa đơn vị thặng dư và đơn vị thâm hụt trong nền kinh tế. Với chức năng này, N HTM vừa đóng vai trò nhận tiền gửi, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay. N hận tiền gửi và cho vay luôn là hoạt động quan trọng nhất của N HTM, nó mang đến lợi nhuận lớn nhất cho N HTM.
Chức năng trung gian thanh toán Ở đây N HTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ. Các ngân hàng thương mại cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi cả ở trong nước hay ở nước ngoài như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp. N hờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán. Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn.
Chức năng này vô hình chung đã thúc đNy lưu thông hàng hóa, đNy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế. Chức năng tạo tiền 8 Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của ngân hàng thương mại là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán. Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ hay kinh doanh trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống ngân hàng thương mại đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội. N gân hàng thương mại tạo tiền phụ thuộc vào tỉ lệ dự trữ bắt buộc của ngân hàng trung ương đã áp dụng đối với ngân hàng thương mại.
Do vậy ngân hàng trung ương có thể tăng tỉ lệ này khi lượng cung tiền vào nền kinh tế lớn. Các hoạt động kinh doanh chủ yếu của ngân hàng Luật các tổ chức tín dụng 2010 nêu rõ ngân hàng thương mại thực hiện các kinh doanh chủ yếu gồm huy động vốn, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản và thực hiện một số nghiệp vụ kinh doanh khác (Quốc hội, 2020). Cụ thể như sau: 1. Hoạt động huy động vốn Hoạt động huy động vốn bao gồm các hình thức: nhận tiền gửi, đi vay và phát hành giấy tờ có giá.
- N hận tiền gửi: Gồm tất cả các khoản tiền gửi của mọi tổ chức và cá nhân gửi tại ngân hàng. Tiền gửi được phân loại theo nhiều cách nhưng cách phân loại hay được sử dụng nhất là chia theo kỳ hạn. Tiền gửi không kỳ hạn là một nguồn vốn rẻ và quan trọng của ngân hàng, tuy nhiên do người gửi tiền có thể rút ra bất cứ lúc nào nên nguồn vốn này thường xuyên biến động. Tiền gửi có kỳ hạn là tiền gửi mà người gửi tiền chỉ có thể rút tiền sau một kỳ hạn nhất định theo thỏa thuận với tổ chức nhận tiền gửi.
Vốn tiền gửi là nguồn vốn chiếm tỉ trọng cao trong tổng số nguồn vốn, là nguồn vốn chủ yếu để ngân hàng kinh doanh. N ó phản ánh bản chất của ngân hàng là huy động tiền gửi để cho vay. 9 - Vốn đi vay: N guồn vốn đi vay là quan hệ vay mượn giữa N HTM với N HTW và với các tổ chức tín dụng khác. - Phát hành giấy tờ có giá: Bên cạnh phương thức nhận tiền gửi, các ngân hàng còn phát hành các loại giấy tờ có giá để huy động vốn như chứng chỉ tiền gửi và trái phiếu.
Các giấy tờ có giá do ngân hàng phát hành có độ thanh khoản cao, chúng có thể chuyển hóa dể dàng ra tiền thông qua việc mua bán trên thị trường vốn hoặc chiết khấu tại các ngân hàng. Vốn huy động được các N HTM sử dụng để thực hiện chức năng cấp tín dụng và kinh doanh đầu tư, mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. Việc huy động vốn sẽ kiểm soát được khối lượng tiền gửi vào ngân hàng góp phần ổn định tiền tệ. Vì vậy huy động vốn đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của các ngân hàng hiện nay.
Cấp tín dụng Hoạt động cấp tín dụng chính là hoạt động cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp cụ cấp tín dụng khác. Hoạt động cấp tín dụng thường đem lại lợi nhuận chủ yếu cho các N HTM. - Cho vay là bước chuyển tiếp từ nghiệp vụ chiết khấu thương phiếu sang cho vay trực tiếp đối với khách hàng, giúp họ có vốn để mua hàng dự trữ nhằm mở rộng sản xuất kinh doanh, phục vụ nhu cầu tiêu dùng… - Bảo lãnh ngân hàng đáp ứng khả năng thanh toán của ngân hàng cho một khách hàng có tài khoản tiền gửi tại ngân hàng mình. N gân hàng bảo lãnh phải có uy tín trong việc thực hiện nghĩa vụ tài chính cho khách hàng mua chịu hàng hóa và trang thiết bị, phát hành chứng khoán, vay vốn của các TCTD khác khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết.
- Cho thuê tài chính: là loại tín dụng trung, dài hạn. Trong đó các công ty cho thuê tài chính dùng vốn của mình hay vốn do phát hành trái phiếu để mua tài sản, thiết bị theo yêu cầu của người đi thuê và tiến hành cho thuê trong một thời gian nhất định. N gười đi thuê phải trả tiền thuê cho công ty cho thuê tài chính theo định kỳ. Khi kết thúc hợp đồng thuê người đi thuê được quyền mua hoặc kéo dài thêm thời hạn thuê hoặc trả lại thiết bị cho bên cho thuê.
10 - Đầu tư: khoản mục đầu tư có vị trí quan trọng thứ hai sau khoản mục cho vay, nó mang lại khoản thu nhập lớn đáng kể cho N HTM. Trong nghiệp vụ này ngân hàng sẽ dùng nguồn vốn của mình và nguồn vốn ổn định khác để đầu tư dưới các hình thức như: mua cổ phần, cổ phiếu của các công ty; mua trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty… 1. Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010 đã định nghĩa cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản là việc cung ứng tài khoản thanh toán; thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản khách hàng. Việc mở tài khoản giao dịch và cho phép người gửi tiền viết séc thanh toán mua hàng hoá, dịch vụ được xem là một trong những bước đi quan trọng nhất của công nghiệp ngân hàng.
Các tiện ích thanh toán không dùng tiền mặt (an toàn, nhanh chóng, chính xác, tiết kiệm chi phí) đã góp phần rút ngắn thời gian kinh doanh và nâng cao thu nhập cho cá nhân, tổ chức kinh tế. Điều này đã khuyến khích các doanh nghiệp và cá nhân gửi tiền vào ngân hàng nhờ ngân hàng thanh toán hộ và các dịch vụ khác.