Chương 1: LICH Sử VẤN ĐỀ. Những vấn để nghiên cứu ở nước ngoài. Ngay từ thời cổ đại đã xuất hiện những tác phẩm nghiên cứu về gia đình, điển hình như Khổng Tử có thể xem như là người đi tiên phong trong vấn để nghiên cứu về gia đình và nó được thể hiện trong cuốn “Luận Ngữ" mà các học trò của Ông, trong lúc học cùng với Khổng Tử đã ghi chép lại, Trong học thuyết của Khổng Tử thì các mối quan hệ gia đình bat đầu từ quan hệ cha mẹ — con cái và là trung tâm của mọi quan hệ xã hội và học thuyết nay coi việc xây dựng các mối quan hệ trong gia đình là quan trọng nhất trong các mối quan hệ. Tâm Lý Học Xã Hội được coi như là ngành khoa học đầu tiên nghiên cứu và sử dụng về “bdu không khí tâm lý".
Tuy nhiên, Tâm Lý Học Xã Hội cũng chỉ mới sử dụng thuật ngữ “bẩu không khí tâm lý” từ những thập niên gan đây. Ở đây người nghiên cứu xin giới thiệu một số nhà Tâm Lý Học đi tiên phong trong việc nghiên cứu về “bầu không khí tâm lý". Thuật ngữ “Bầu kháng khí tâm lý" đã được Manxurôy (Liên Xô cũ) sử dụng trong nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lao động, trong đó có bau không khí tâm lý tập thể. Chính vì thuật ngữ này mới nên rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cửu và những công trình nghiên cứu thường tập trung vào bầu không khí tâm lý trong tập thể lao động, như những vấn để sau: “vấn để mối quan hệ giữa những yếu tổ bên ngoài và bên trang - trong việc xác định hành vi và chức năng điều chỉnh ý thie", Cuối những năm 60, một công trình nghiên cứu không chỉ xác định khái niệm “Bau không khí tâm ly xã hội" mà còn xác định tình trạng nghiên cứu vấn để này, Đó là công trình của G.
Ho đã phát biểu trong công trình nghiên cứu của mình như sau: “trong không khí tâm lý xã hội cần phải chú ý đến sắc thải cẩm xúc tâm lý, nó được hình thành trong quả trình hoạt động và được T thể hiện trong mối tác động qua lại giữa các thành viên trong tập thể, trên cơ sở mỗi liên hệ khách quan và chủ quan giữa các nhóm chính thức và không chính thức, thông qua sự tiến xúc giữa các cd nhân. Sắc thái cdm xúc này được qui định bởi gid trị định hướng, chuẩn mực đạo đức và quyén lợi của các thành viên trong tận thé”. Theo các nhà Tâm Lý Học X6 Viết thì không khí tâm lý xã hội cụ thể của tập thể được hình thành bởi hai nhãn tố cơ ban sau: Một là sự hình thành những diéu kiện xã hội vi mô của hoạt động sống, cũng như những điểu kiện vĩ mô của nó. Hai là nó không chỉ hình thành trong quá trình hoạt động xã hội, giao tiếp, nghỉ ngơi và sinh hoạt hãng ngày.
Ngoài ra, còn một số nghiên cứu về vai trò của người lãnh đạo đối với không khí tâm lý. Chẳng hạn như những vấn để xung đột và cách giải quyết nó hay các yếu tố khác ảnh hưởng đến bầu không khí tâm lý. Những vấn để nghiên cứu ở trong nước. Những nghiên cứu vé gia đình tại Việt Nam cũng rất nhiều, nhưng về bau không khí tâm lý trong gia đình chưa có nhiễu người nghiên cứu, mà phan lớn tập trung nghiên cứu các khía cạnh khác về gia đình như: mối quan hệ và thái độ của các thành viên trong gia đình.
Người nghiên cứu xin giới thiệu một số công trình nghiên cứu có liên quan đến dé tài: Nho giáo ngự trị ở nước ta khá lâu đời thì việc giáo dục gia đình là một nhiệm vụ được triểu đình Phong kiến và các nhà Nho đặt lên hàng đầu. Nhưng cũng chưa có một tác phẩm nào mang tính phổ biến ma phẩn lớn dựa vào học thuyết của Nho giáo. Mặc dù thế, việc giáo dục gia đình rất phổ biến trong nước ta thời bấy giờ có thể xem những bài “Gia huấn ca" dùng để giáo dục trong các gia đình và họ tộc là những tác phẩm về gia đình rất phù hợp với đất nước ta thời bấy gid, vì những bài gia huấn này có vẫn điệu khiến dễ thuộc, dé nhớ đối với những người dân ta phin lớn ít chữ, đặc biệt là phụ nữ đối tượng ít được chính thức đến trường học. Tác giả của gia huấn là những Nho gia, là những người học giỏi, đỗ cao, là đại thần, là thấy giáo nổi tiếng.
Những tác giả phải kể đến là Mạc Dinh Chi (Giáo huấn tử phú), Nguyễn Trãi (Bảo kính cảnh giới), Nguyễn Binh Khiêm (Bach van gia huấn), Hỗ Phi Tích (Cùng đạt gia huấn), Bùi Huy Bich (Hành tham quan gia huấn). Chẳng hạn như mối quan hệ giữa cha - con: cha mẹ đối với con cái là tình thương yêu, là sự bao dung, là trách nhiệm dạy dỗ, đó là điểm mấu chốt của đạo làm cha mẹ: “Lam cha cho phải đạo cha, Day răn nghiêm phép tit hòa dé khuyên ", Còn con cái đối với cha mẹ d6 là “hiếu" một tiêu chí tối quan trọng của ludn lý và đạo đức Nho giáo, là phẩm chất số một của mọi đức hạnh. "Hiếu là trăm nét đầu lòng, Người chẳng thảo thuận là dòng muông dé”. Nhìn chung các bai gia huấn dùng giáo dục trong phạm vi gia đình, đôi lúc chỉ là bộc phát để ran day con cái và những người trong gia đình, đặc biệt các bài gia huấn chú ý nhiều đến việc giáo duc phụ nữ.
Nhưng những bai này cũng góp một phan quan trọng trong việc giáo dục nên nếp gia phong trong gia đình thời Phong kiến. Trong những năm gắn đây thì vấn để gia đình được nhiều khoa học quan tâm nghiên cứu từ cấp cơ sở đến trung ương. Như trong nghiên cứu “Những nghiên cửu về xã hội hoc" của GS Tương Lai thực hiện từ 1991-1996, Dé tài này đã qui tụ rất đông những nhà khoa học của các ngành khác nhau và để tài nghiên cứu rất nhiều lĩnh vực khác nhau về gia đình như đi tìm một định nghĩa về gia đình, vai trò của giới trong việc xây dựng gia đình hạnh phúc, sự biến đổi cấu trúc gia đình. Hay như trong công trình nghiên cứu về “Vai trò gia đình trong việc xây dựng nhân cách con người Việt Nam" của GS, Lê Thi, Để tài KX/07/09, 1992-1995.
Để tài nghiên cứu cụ thể những vấn để sau: Con người và vấn để xã hội hóa. Qua khảo sát cho thấy nhiều bậc cha me đã nhận thức được vị trí vai trò và trách nhiệm của gia đình đối với việc giáo dục thế hệ trẻ, Họ đã quan tâm nhiều đến việc học tập của con cái, rèn luyện chúng về đạo đức, tư cách, tạo điểu kiện cho chúng học hành, vui chơi. VỀ quan niệm gia đình hòa thuận (xếp tif cao nhất trở xuống): Gia đình hòa thuận; con ngoan, học giỏi, tiến bộ; chăm sóc cha mẹ già yếu. Vẻ định hướng giáo dục con cái: Con có hiếu; có văn hóa cao; có nghề chuyên môn cao.
Để tài nghiên cứu đã lột tả được vai trò quan trọng của gia dinh trong sự hình thành nhân cách con người trong các giai đoạn lịch sử. Tuy nhiên, để tài chỉ dừng lại ở việc chỉ ra thực trạng gia đình chưa để ra một thang chuẩn giá trị để xây dựng một gia đình hòa thuận, ấm cúng một cách tương đối lý tưởng. Hay công trình nghiên cứu cấp thành phố “Nhận điện và dự báo về cẩu trúc va chức năng gia đình ở TPHCM" của PTS. Nguyễn Minh Hòa, 1995-1997, Tác giả nghiên cứu nhiều vấn để về gia đình, trong đó về quan hệ giữa các thành viên trong gia đình tác giả đã chỉ ra những vấn đế sau: Vai trò của vợ và chong trong gia đình: theo sự quan sát trên 900 hộ gia đình của tac giả thì nhìn chung vai trò của vợ chẳng hấu như là bình đẳng như: quyết định các khoản chỉ tiêu lớn; việc học hành (chọn nghề) của con cái; quyết định việc hôn nhân của con cái; quyết định các chuyến đi xa đều do cả hai cùng quyết định.
Chỉ có phẩn người đóng góp nhiễu nhất cho ngân sách gia đình là thuộc về người chỗng và người nắm giữ ngân sách là do người vợ. Quan hệ giữa cha mẹ và con cái: trong gia đình hiện nay cha me và con cái thỉnh thoảng có những cự cãi (phản ứng lại bằng lời và cử chỉ) và nguyên nhân dẫn đến tinh trang này là do không cùng thị hiếu, sở thích của cá nhân và các quan hệ bạn bè, tình yêu của con cái. Nhìn chung vấn để này được tác giả nghiên cứu để nhận diện hiện trạng gia đình ở TPHCM, chưa đi sâu nghiên cứu những vấn để tâm lý trong các mỗi quan hệ của các thành viên trong gia đình. Nhưng cũng cung cấp cho ta một cái nhìn tổng thể về gia đình tại TPHCM hiện nay.
Bên cạnh những nghiên cứu của các học giả thì một số sinh viên và ngay cả những giảng viên cũng đã tham gia vào việc nghiên cứu về gia đình. Chẳng han, để tài “Thái độ của học sinh đấi với cha mẹ trường PTTH Trưng Vương TPHCM" của Nguyễn Thị Mỹ Linh, Luận văn tốt nghiệp đại học năm học 1993/1994, sinh viên khoa Tâm Lý - Gido Dục trường Đại Học Sư Phạm TPHCM. Dé tai tập trung nghiên cứu thái độ của học sinh đối với cha mẹ. Tìm hiểu những mối quan hệ trong 10 gia đình học sinh, Tuy nhiên, để tài chỉ mới tìm hiểu thái độ của học sinh trong các vấn để sinh hoạt trong gia đình, mà chưa tìm hiểu thái độ của phụ huynh về những vấn để đó.
Hay như "Bầu không khí tâm lý trong gia đình và việc giáo dục con cdi của các gia đình có con là sinh viên" của Phạm Thị Thanh Mai, luận án thạc sĩ Tam Lý - Giáo Dục Dân Số 1998. Để tài này có để cập đến khái niệm “bẩu không khí tâm lý trong gia đình". Kết quả nghiên cứu trên 200 sinh viên của tác giả đã chỉ ra mt số thực trạng sau: Về bau không khí tâm lý trong gia đình sinh viên khá thuận lợi, các mỗi quan hệ của các thành viên là gan gũi và thân mat. - Wé xung đột trong gia đình: Cách giải quyết mâu thuẫn ở các nhóm gia đình khác nhau.
Khi các mâu thuẫn được giải quyết thì đa số các gia đình sẽ có sự thống nhất cảm thông và gắn bó với nhau.