CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG 1. Lý do chọn đề tài: Trong thực tế người bên ngoài luôn có ít thông tin về tình hình hoạt động của công ty hơn các nhà quản trị, ban giám đốc công ty, vì vậy có nhiều lý thuyết được xây dựng để làm thế nào những rủi ro tài chính ảnh hưởng đến dự báo tỷ suất sinh lợi của nhà đầu tư. Những rủi ro tài chính nào tạo ra sự không chắc chắn cho dự báo của nhà đầu tư. Những thông tin trên báo cáo tài chính được các công ty công bố ra bên ngoài là những thông tin vừa mang tính lịch sử vừa không phản ánh đầy đủ các rủi ro mà công ty đang đối mặt hoặc sẽ đối mặt trong tương lai.
Những rủi ro này ảnh hưởng đến khả năng dự báo tỷ suất sinh lợi công ty của các nhà phân tích, các nhà đầu tư. Mục tiêu nghiên cứu: Liệu nhà đầu tư có giải quyết được sự không chắc chắn được tạo ra từ rủi ro tài chính lên tỷ suất sinh lợi cổ phiếu. Phương pháp nghiên cứu: Trong bài nghiên cứu này tôi sử dụng các mô hình hồi quy. Trước hết tôi sử dụng các mô hình để kiểm định phương sai sai số thay đổi (heteroskedasticity) và kiểm định Wooldridge test để kiểm định hiện tượng tương quan chuỗi.
Các mô hình hồi quy như: Hồi quy tỷ suất sinh lợi theo báo cáo của công ty khi lãi suất, tỷ giá hối đoái và giá cả hàng hóa thay đổi. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 Hồi quy tỷ suất sinh lợi bất thường của chứng khoán trong ba ngày trước ngày công bố báo cáo của công ty khi lãi suất, tỷ giá hối đoái và giá cả hàng hóa thay đổi. Hồi quy sai số dự báo của nhà phân tích và những thay đổi lãi suất, tỷ giá hối đoái và giá cả hàng hóa. Bố cục bài nghiên cứu: Tôi thiết kế cấu trúc bài nghiên cứu để kiểm tra các chuỗi sự kiện sau: 1) Các nhà đầu tư và các nhà phân tích quan sát thông tin chung về những thay đổi của lãi suất (IR), tỷ giá hối đoái (FX) và giá cả hàng hóa (COM) trong quý t và quý t-1, t-2, t-3.
2) Ngay cuối quý t hoặc gần cuối quý t, các nhà đầu tư và các nhà phân tích sử dụng thông tin mà họ có được về độ nhạy cảm rủi ro tài chính công ty để tạo thành những kỳ vọng về những thay đổi của lãi suất, tỷ giá hối đoái và giá cả hàng hóa xảy ra tại thời điểm và độ trễ của nó có thể sẽ ảnh hưởng đến các lợi nhuận công ty trong quý t. 3) Lợi nhuận của công ty trong quý t được báo cáo trong quý t +1 và sai số dự báo của nhà phân tích và nhà đầu tư (ví dụ, báo cáo tỷ suất sinh lợi) được quan sát. Bài nghiên cứu này được trình bày như sau: Chương 2: Các nghiên cứu trước đây. Chương 3: Mô tả các lựa chọn mẫu và rủi ro của các nhân tố vĩ mô.
Chương 4: Báo cáo kết quả về mối liên quan giữa thay đổi của lãi suất, tỷ giá hối đoái và giá cả hàng hóa và tỷ suất sinh lợi theo báo cáo và dự báo tỷ suất sinh lợi của nhà đầu tư. Chương 5: Tổng kết. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 CHƯƠNG 2: CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 1. Wayne Guay và cộng sự (2003) “The influence of corporate risk exposures on the accuracy of earnings forescasts”: xem xét bằng cách nào những biến động của lãi suất, tỷ giá hối đoái và giá cả hàng hóa ảnh hưởng đến lợi nhuận kỳ vọng của nhà đầu tư.
Kết quả cho thấy nhà đầu tư gặp khó khăn trong việc đo lường ảnh hưởng của các rủi ro tài chính lên tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của nhà đầu tư. Tỷ suất sinh lời của cổ phiếu phụ thuộc vào những biến động của lãi suất, tỷ giá hối đoái và giá cả hàng hóa ở hiện tại và độ trễ của nó. Những rủi ro tài chính này làm gia tăng sự không chắc chắn về lợi nhuận dự kiến của nhà đầu tư, và nhà đầu tư giải quyết được khoảng từ 28% đến 56% sự không chắc chắn được tạo ra bởi sự biến động của lãi suất, tỷ giá hối đoái và giá cả hàng hóa. Võ Thị Thúy Anh và Nguyễn Thanh Hải (2013) “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của các cổ phiếu tại thị trường chứng khoán Việt Nam”: Kết quả cho thấy tỷ suất sinh lợi cổ phiếu chịu tác động của hai nhân tố cơ bản là lạm phát và chỉ số Nikkei, đại diện cho tình hình kinh tế khu vực trong đó tác động của lạm phát mạnh hơn rất nhiều.
Ngành công nghiệp và ngành tiêu dùng chịu tác động tiêu cực của lạm phát ngoài kỳ vọng lớn nhất. Các cổ phiếu của các doanh nghiệp có hiệu quả kinh doanh tốt chịu tác động của lạm phát thấp nhất. Tác động của chỉ số Nikkei yếu nhưng mức độ tác động đến cổ phiếu các ngành ít phân tán hơn. Bhattacharya (1979): “Imperfect information, dividend policy and ‘the bird in the hand’ fallacy”: tác giả giả định rằng nhà đầu tư bên ngoài luôn có thông tin không hoàn hảo về lợi nhuận của công ty và việc chi trả cổ tức bằng tiền mặt bị đánh thuế cao hơn so với thuế thu nhập.
Bài nghiên cứu này giải thích lý do tại sao công ty chi trả cổ tức bằng tiền mặt mặc dù có những bất TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 lợi về thuế như vậy. Kết quả bài nghiên cứu này cho thấy rằng chính sách chi trả cổ tức như là một dấu hiệu về dòng tiền kỳ vọng của nhà đầu tư. Myers và Majluf (1984) “Corporate financing and investment decisions when firms have information that investors do not have”: tác giả xem xét rằng một công ty phải phát hành cổ phiếu để huy động vốn từ nhà đầu tư để thực hiện các cơ hội đầu tư. Giả định rằng các nhà quản lý có đầy đủ thông tin hơn so với các nhà đầu tư tiềm năng bên ngoài.
Các nhà đầu tư giải thích quyết định của công ty một cách hợp lý: mô hình cân bằng của quyết định phát hành – đầu tư vào các dự án khả thi đã được chọn trước. Mô hình này cho thấy rằng các công ty có thể từ chối phát hành cổ phiếu và do đó họ có thể bỏ qua cơ hội đầu tư. Mô hình này cũng giải thích được một số khía cạnh của tài chính hành vi, trong đó xu hướng dựa vào nguồn lực nội bộ từ các quỹ và việc ưa thích sử dụng đòn bẩy tài chính nếu công ty huy động từ nguồn vốn bên ngoài. Demarzo và Duffie (1995) “Corporate incentives for hedging and hedge accounting”: tác giả cho rằng thông tin ảnh hưởng đến quản trị rủi ro tài chính.
Phòng ngừa rủi ro tài chính làm cải thiện thông tin về lợi nhuận của công ty và nó cũng là dấu hiệu cho thấy khả năng quản trị và hiệu quả của dự án đầu tư. Các nhà quản trị và các cổ đông có động cơ truyền tải thông tin có thể khác nhau, tuy nhiên đứng đầu những xung đột này là chính sách phòng ngừa rủi ro tối ưu. Tác giả cho thấy rằng những động cơ đó phụ thuộc vào thông tin kế toán của công ty. Nếu việc thực hiện phòng ngừa rủi ro này không được tiết lộ (ví dụ như báo cáo của công ty chỉ là tổng hợp thu nhập), quản trị rủi ro với mục tiêu là làm giảm rủi ro hơn nếu tất cả rủi ro đều được biết.
Trong trường hợp này, điều tốt nhất cho các cổ đông là chỉ yêu cầu tổng hợp các báo cáo của kế toán. Phòng ngừa rủi ro tài chính có thể làm hạn chế TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 những tổn thất cho công ty và do đó làm giảm sự bất cân xứng thông tin giữa các nhà quản lý và nhà đầu tư. Những bài nghiên cứu mở rộng cho thấy rằng các công ty xem xét chi phí cung cấp thông tin từ khi tiến hành thiết lập đến khi thực hiện. Ngoài ra, cơ quan quản lý gồm Ủy ban Chứng khoán Mỹ - SEC (U.
Securities and Exchange Commission) và Tổ chức Tài chính kế toán Mỹ - FASB (Financial Accounting Standard Board) đã phát hiện ra sự không chắc chắn đó và đã tiến hành các khảo sát các công ty để làm rõ các lập luận của họ (Ví dụ, giữa năm 1990 và năm 1998 Tổ chức Tài chính kế toán Mỹ - FASB đã ban hành Báo cáo của Chuẩn mực Kế toán tài chính số 105,107, 119, và 133 tất cả nhằm mục đích yêu cầu các công ty phải thuyết minh các thông tin liên quan đến công cụ tài chính chẳng hạn như chứng khoán phái sinh. Năm 1997, Ủy ban Chứng khoán Mỹ - SEC đã ban hành báo cáo tài chính phát hành số 48 yêu cầu có ước tính không chỉ định tính mà phải định lượng được những tổn thất tài chính có thể có từ những biến động bất lợi về lãi suất, tỷ giá hối đoái và giá cả hàng hóa liên quan đến hoạt động của công ty. Barton 2001 “Does the Use of Financial Derivatives Affect Earnings Management Decisions?”: Bài nghiên cứu này cung cấp một bằng chứng phù hợp với nhà quản trị sử dụng các công cụ tài chính phái sinh và chi phí trích trước như là cách thay thế để làm ổn định thu nhập. Bài nghiên cứu này sử dụng dữ liệu từ 1994 đến 1996 của 500 công ty theo tạp chí Fortune, Tác giả ước tính các phương trình mà động cơ của nhà quản trị để duy trì sự ổn định thu nhập thông qua phòng ngừa rủi ro tài chính và trích trước chi phí.
Động cơ này bao gồm cả việc gia tăng chi phí và giảm thuế thu nhập doanh nghiệp và chi phí tài chính, tránh đầu tư không hiệu quả và giảm bớt sự biến động do không đa dạng hóa trong đầu tư hoặc đa dạng hóa thấp. Sau khi tác giả điều TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 chỉnh, tác giả tìm thấy có một sự liên kết chặt chẽ cùng chiều giữa việc sử dụng các công cụ tài chính phái sinh và trích trước chi phí để ổn định thu nhập. Pincus và Rajgopal (2002) “The Interaction between Accrual Management and Hedging: Evidence from Oil and Gas Firms”: Bài nghiên cứu điều tra liệu các công ty sản xuất dầu mỏ và khí đốt sử dụng các phương pháp trích trước và phòng ngừa rủi ro để ổn định thu nhập. Các công ty tham gia vào thăm dò và khai thác dầu thường phải đối mặt với 2 loại rủi ro đó là rủi ro về giá dầu và rủi ro thăm dò dầu.