Nghiên cứu tác động của nhân lực ngành logistics đến nền kinh tế Việt Nam năm 2018-2019

Tài liệu nghiên cứu Tiểu luận nghiên cứu khoa học sinh viên năm 2018 2019 đề tài nhân lực ngành logistics và tác động, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Chuyên ngành

Logistics

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Nghiên Cứu Khoa Học Sinh Viên

2018-2019

66
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Vai trò của ngành Logistics trong nền kinh tế Việt Nam

Ngành Logistics đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Là cầu nối quan trọng giữa sản xuất và tiêu dùng, Logistics đảm bảo dòng chảy hàng hóa thông suốt, từ đó giảm chi phí, nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp và nền kinh tế. Logistics hiệu quả còn góp phần thu hút đầu tư nước ngoài, tạo công ăn việc làm, và nâng cao vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.

1.1. Tác động đến hoạt động sản xuất

Logistics tác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. Logistics đảm bảo cung ứng nguyên vật liệu kịp thời, giảm thiểu tình trạng tồn kho, tối ưu hóa quy trình vận chuyển và phân phối sản phẩm. Điều này giúp doanh nghiệp giảm chi phí sản xuất, tăng năng suất lao động, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường.

1.2. Tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu

Xuất nhập khẩu là động lực tăng trưởng quan trọng của kinh tế Việt Nam. Logistics đóng vai trò then chốt trong việc vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu, đảm bảo thời gian giao hàng, giảm thiểu rủi ro hư hỏng, thất thoát. Logistics hiệu quả giúp Việt Nam tham gia sâu rộng vào chuỗi cung ứng toàn cầu, thu hút đầu tư nước ngoài, thúc đẩy tăng trưởng xuất nhập khẩu.

II. Ảnh hưởng của nhân lực ngành Logistics đến sự phát triển kinh tế

Nhân lực là yếu tố cốt lõi quyết định hiệu quả hoạt động của ngành Logistics. Nhân lực ngành Logistics chất lượng cao, được đào tạo bài bản, có kỹ năng chuyên môn vững vàng và khả năng thích ứng với công nghệ mới sẽ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành Logistics Việt Nam. Ngược lại, thực trạng thiếu hụt nhân lực, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao, đang là thách thức lớn đối với sự phát triển bền vững của ngành Logisticsnền kinh tế.

2.1. Vai trò của nhân lực Logistics trong thời kỳ 2018 2019

Trong thời kỳ 2018-2019, kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định, xu hướng Logistics 4.0 phát triển mạnh mẽ đặt ra yêu cầu cao về nhân lực ngành Logistics. Nhu cầu về nhân lực có trình độ cao, am hiểu công nghệ, quản lý chuỗi cung ứng, phân tích dữ liệu Logistics tăng cao. Nhân lực Logistics chất lượng cao là yếu tố then chốt để ngành Logistics Việt Nam nắm bắt cơ hội, vượt qua thách thức trong thời kỳ này.

2.2. Phân tích tác động của nguồn nhân lực Logistics đến các chỉ số Logistics Việt Nam

Chất lượng nguồn nhân lực Logistics ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động và các chỉ số Logistics Việt Nam. Nhân lực được đào tạo bài bản, có kỹ năng nghiệp vụ tốt sẽ góp phần nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí Logistics, rút ngắn thời gian giao hàng, nâng cao chất lượng dịch vụ. Điều này được phản ánh tích cực qua các chỉ số Logistics Việt Nam như chỉ số năng lực Logistics (LPI), chỉ số hiệu suất Logistics, báo cáo ngành Logistics Việt Nam.

01/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LOGISTICS VÀ NGUỒN NHÂN LỰC 1. Cở sở lý luận về Logistics và vai trò của Logistics đối với nền kinh tế 1.1 Tổng quan về Logistics 1.1 Khái niệm Logistics Logistics được phát minh và ứng dụng lần đầu tiên trong lĩnh vực quân sự với ý nghĩa là “hậu cần” hay “tiếp vận”. Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và sự hỗ trợ đắc lực của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trên thế giới, Logistics được nghiên cứu sâu và ứng dụng sang các lĩnh vực khác nhau như sản xuất, kinh doanh. Trong thời gian đầu, Logistics được coi là một phương thức kinh doanh mới, mang lại hiệu quả cao cho các doanh nghiệp.

Cùng với quá trình phát triển, Logistics đã được chuyên môn hóa và phát triển trở thành một ngành dịch vụ đóng vai trò quan trọng quan trọng trong giao thương quốc tế. Nhưng cho đến nay trên thế giới chưa có một khái niệm hoàn chỉnh về Logistics. Có rất nhiều khái niệm khác nhau về Logistics trên thế giới và được xây dựng căn cứ trên ngành nghề và mục đích nghiên cứu về dịch vụ Logistics, tuy nhiên, có thể kể đến một số khái niệm tiêu biểu sau: Năm 1998, Hội đồng quản trị Logistics Hoa Kỳ (LAC- The US. Logistics Administration Council) quan niệm “Logistics là quá trình lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát dòng di chuyển và lưu kho những nguyên vật liệu thô của hàng hóa trong quy trình, những hàng hóa thành phẩm và những thông tin có liên quan từ khâu mua sắm nguyên vật liệu cho đến khi được tiêu dùng, với mục đích thỏa mãn yêu cầu của người tiêu dùng”.

8 Định nghĩa mà Hội đồng các chuyên gia Quản trị Chuỗi cung ứng (Council of Supply Chain Management Professionals- CSCMP) Hoa Kỳ đưa ra năm 2001 là chính xác và toàn diện hơn cả, đã định nghĩa “Logistics là một bộ phận của chu trình chuỗi cung ứng, bao gồm các quá trình hoạch định kế hoạch, thực hiện và kiểm soát một cách hiệu quả việc dự trữ và lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ,thông tin hai chiều giữa điểm khởi đầu và điểm tiêu dùng nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng” GS.TS Đoàn Thị Hồng Vân đã định nghĩa trong tài liệu “Logistics – Những vấn đề cơ bản” (NXB Thống kê năm 2003): “Logistics là quá trình tối ưu hoá các hoạt động vận chuyển và dự trữ hàng hoá từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ cuối cùng thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế”. Logistics được mô tả là các hoạt động (dịch vụ) liên quan đến hậu cần và vận chuyển, bao gồm các công việc liên quan đến cung ứng, vận tải, theo dõi sản xuất, kho bãi, thủ tục phân phối, hải quan… Logistics là tập hợp các hoạt động của nhiều ngành nghề, công đoạn trong một quy trình hoàn chỉnh Qua một số khái niệm trên đây, tuy các tác giả sử dụng ngôn từ diễn giải khác nhau nhưng trong nội dung có thể thấy rằng Logistics là một chuỗi các hoạt động liên tục, có quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau được thực hiện một cách khoa học và có hệ thống từ lên kế hoạch, quản lý thực hiện và kiểm soát dòng lưu trữ, vận chuyển các tài nguyên (nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm, hàng hóa), tài chính, thông tin từ nơi cung cấp đến kho chứa, qua các nhà xưởng, các xí nghiệp, nhà máy, kho bãi, người bán buôn, người bán lẻ và đến tay người tiêu dùng. Do đó, Logistics là quá trình liên quan tới nhiều hoạt động khác nhau trong cùng một tổ chức, từ xây dựng chiến lược cho đến các hoạt động chi tiết, cụ thể để thực hiện chiến lược 9 Tóm lại, có thể hiểu Logistics là quá trình tối ưu hóa về vị trí và thời gian, vận chuyển và dự trữ nguồn tài nguyên từ điểm đầu tiên của chuỗi cung ứng cho đến tay người tiêu dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế.2 Nội dung của hoạt động Logistics Dịch vụ vận tải Vận tải là một khâu quan trọng rất cần và không thể thiếu được trong Logistics, yêu cầu này xuất phát từ xu hướng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của xã hội. Theo nghĩa rộng: Vận tải là một quy trình kĩ thuật nhằm di chuyển con người và vật phẩm trong không gian Theo nghĩa hẹp: Vận tải là hoạt động kinh tế có mục đích của con người nhằm hoán chuyển vị trí của hàng hóa và bản thân con người từ nơi này sang nơi khác bằng các phương tiện vận tải.

Vai trò: Vận tải có vai trò quan trọng và vai trò này sẽ ngày càng tăng thêm do chi phí cho vận chuyển có xu hướng chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng chi phí Logistics. Hệ thống vận tải được ví như mạch máu của nền kinh tế, giúp nối liền các ngành, các đơn vị sản xuất với nhau, nối liền khu vực sản xuất với khu vực tiêu dùng, nối liền thành thị với nông thôn, miền ngược với miền xuôi và giữa các quốc gia trên thế giới với nhau. Góp phần làm cho nền kinh tế trở thành một khối thống nhất và nó phản ánh trình độ phát triển của một quốc gia. Vận tải phục vụ mọi lĩnh vực của đời sống xã hội: sản xuất, lưu thông, tiêu dùng, quốc phòng… Vận tải hàng hóa rất cần thiết đối với tất cả các giai đoạn quá trình sản xuất, từ khâu đầu vào khi vận chuyển nguyên vật liệu, nhiên liệu, vật liệu cho quá trình 10 sản xuất đến khâu đầu ra là vận chuyển thành phẩm sau khi sản xuất.

Nếu không có vận tải thì bất cứ một hoạt động nào trong quá trình sản xuất cũng không thể thực hiện được. Theo phương thức thực hiện quá trình vận tải có thể chia như sau: Vận tải đường thủy Vận tải đường thủy là hình thức vận tải cổ xưa nhất. Có hai hình thức là vận tải thủy nội địa và vận tải đường biển. Vận tải đường thủy có khả năng vận chuyển khối lượng hàng hóa cực kì lớn, hạn chế sự va chạm trong trong quá trình lưu thông một cách tối đa, độ an toàn cho hàng hóa được đảm bảo.

Đây là loại hình có mức chi phí cố định trung bình, ở mức giữa vận tải đường bộ và đường sắt. Bất lợi của vận tải đường thủy là giới hạn phạm vi hoạt động và tốc độ thấp vì vậy cần kết hợp với vận tải đường bộ, đường sắt. Tuy nhiên, thời gian trung chuyển chậm của vận tải đường thủy đã tạo ra một hình thức lưu trữ hàng hóa trên lộ trình mà có thể đem lại lợi ích trong quá trình thiết kế hệ thống giao vận. Vận tải đường bộ Vận tải đường bộ có tính cơ động và linh hoạt cao, tốc độ vận chuyển nhanh và thường vận chuyển các loại hàng hóa có khối lượng trung bình, nhỏ trên đoạn đường ngắn.

Đường bộ có chi phí cố định đầu tư tương đối nhỏ vào bến bãi và hoạt động trên quãng đường được hệ thu phí và bảo trì một cách minh bạch. Nhưng lại có chi phí biến đổi cao do nhiều yêu cầu về nhiên liệu, lao động. Vận tải đường sắt Vận tải đường sắt có khả năng vận chuyển hiệu quả một khối lượng hàng hóa lớn trên khoảng cách dài. Hoạt động vận tải đường sắt có chi phí cố định khá cao vì thiết bị vận chuyển đắt tiền, chỉ vận chuyển một chiều, chi phí ga trung chuyển 11 và bến tàu.

Tuy nhiên có chi phí vận hành biến đổi tương đối thấp do chi phí nhiên liệu, nhân công thấp. Chính chi phí biến đổi đã tạo thành lợi thế cạnh tranh cho vận chuyển quãng đường xa. Thời gian vận chuyển hàng hóa được quy định sẵn theo lịch trình chạy của tàu và không thể thay đổi được. Đường sắt được sử dụng chủ yếu vận chuyển các mặt hàng như khoáng sản, ô tô, thiết bị nông nghiệp, máy móc… Tuy nhiên để phát huy hiệu quả, vận tải đường sắt phải kết hợp với các hình thức vận tải khác như đường bộ… và phát triển các thiết bị chuyên môn hóa như toa chuyên dụng toa khớp nối,, Vận tải hàng không Vận tải hàng không là hình thức hiện đại nhất.

Lợi thế của hình thức này là tốc độ nhanh, rút gọn được thời gian vận chuyển hàng hóa đáp ứng được nhu cầu giao hàng cấp thiết. Tốc độ vận tải hàng không cho phép các khía cạnh khác của Logistics như nhà kho, dự trữ được giảm thiểu. Các mặt hàng được vận chuyển thường có giá trị và ưu tiên cao, rất dễ bị hư hỏng như thực phẩm tươi sống, thiết bị y tế. Tuy nhiên năng lực của vận tải hàng không bị giới hạn bởi kích cỡ hàng, khả năng nâng hàng và số lượng máy bay.

Chi phí biến đổi của hình thức này rất cao do giá nhiên liệu, chi phí sử dụng dịch vụ, bảo trì và chi phí lao động của phi hành đoàn cũng như phục vụ tại mặt đất. Vận tải đường ống Đường ống dùng để vận chuyển các loại hàng hóa ở dạng lỏng, dạng khí, dạng hồ như xăng dầu, khí tự nhiên…Bản chất của vận tải đường ống khác biệt so với các hình thức khác. Nó có thể hoạt động 24/24, 7 ngày/tuần và chỉ bị giới hạn bởi hoạt động bảo trì, bảo dưỡng. Trong các loại hình vận tải, đường ống có chi phí cố định cao nhất và chi phí biến đổi thấp nhất.

Chi phí cố định cao nhất do 12 chi phí xây dựng hạ tầng đường ống, các trạm kiểm soát. Còn chi phí biến đổi là thấp do không cần thuê lao động khi xây dựng xong hạ tầng. Nhìn chung, mỗi loại hình vận tải có ưu và nhược điểm riêng, tùy theo điều kiện hạ tầng và loại hàng hóa mà lựa chọn loại hình phù hợp, phối hợp linh hoạt các loại hình vận tải để đạt được hiệu quả cao. Dịch vụ kho bãi phân phối Khái niệm: Kho bãi là một bộ phận của Logistics, là nơi cất giữ nguyên nhiên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm.trong suốt quá trình chu chuyển từ điểm đầu đến điểm cuối của dây chuyền cung ứng, đồng thời cung cấp các thông tin về tình trạng, điều kiện lưu giữ và vị trí của các hàng hóa lưu kho.

Trong thực tế, đôi khi có sự nhầm lẫn giữa hai thuật ngữ Nhà kho và Trung tâm phân phối. Nhà kho là nơi chứa đựng tất cả các loại sản phẩm thì trung tâm phân phối chỉ duy trì mức dự trữ tối thiểu và chỉ tập trung vào các mặt hàng có nhu cầu lớn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ