CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1. Lý do chọn đề tài Trong thời kỳ kinh tế bất ổn, lạm phát biến động lớn, các nhà đầu tư có xu hướng tìm kiếm các tài sản đầu tư trú ẩn an toàn trước lạm phát. Cổ phiếu thường được cho là một trong những tài sản phục vụ cho mục tiêu này, khi đó nhà đầu tư kỳ vọng suất sinh lợi danh nghĩa của cổ phiếu sẽ đồng biến với tỷ lệ lạm phát. Đây là quan điểm xuất phát từ lý thuyết Fisher về quan hệ đồng biến 1:1 giữa lãi suất danh nghĩa và tỷ lệ lạm phát (Lãi suất danh nghĩa = Lãi suất thực + tỷ lệ lạm phát).
Theo lý thuyết Fisher mở rộng lãi suất danh nghĩa thực tế gồm lãi suất danh nghĩa kỳ vọng và lãi suất danh nghĩa ngoài kỳ vọng, tương tự tỷ lệ lạm phát gồm hai thành phần là lạm phát kỳ vọng và lạm phát ngoài kỳ vọng. Phần lớn các kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy mối quan hệ nghịch biến giữa suất sinh lợi cố phiếu và lạm phát (Bodie, 1976; Fama, 1981; Chen, Roll, Ross 1986; Adams và cộng sự, 2004). Chỉ một vài nghiên cứu tìm thấy bằng chứng phù hợp với lý thuyết Fisher (Luintel và Paudyal, 2006; Nguyễn Ngọc Định và Phan Thanh Phong, 2014). Trong khi đó, một vài nghiên cứu lại tìm thấy kết quả hỗn hợp (Diaz, Jareno 2009; Li, Narayan, Zheng 2010; Lê Long Hậu 2014).
Các nhà kinh tế đã đưa ra một số lý do giải thích cho vấn đề này như do khác biệt của nguyên nhân dẫn đến lạm phát (lạm phát từ yếu tố tiền tệ hay yếu tố thực), ảnh hưởng của các nhân tố khác đồng thời đến lạm phát và lãi suất, hoặc do vị thế của công ty trên thị trường vốn (cho vay hay đi vay). Do sự khác biệt giữa thực nghiệm và lý thuyết nên tác giả lựa chọn đề tài “Các yếu tố giải thích tác động của lạm phát ngoài kỳ vọng lên tỷ suất sinh lợi cổ phiếu theo ngành trên thị trường chứng khoán Việt Nam” làm bài nghiên cứu của mình. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu của bài tập trung vào các vấn đề sau: - Kiểm tra tác động của thông tin lạm phát, cụ thể là lạm phát ngoài kỳ vọng lên tỷ suất sinh lợi cổ phiếu theo ngành trong ngắn hạn trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn từ tháng 8 năm 2008 đến tháng 7 năm 2015. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 - Kiểm định các yếu tố giải thích tác động đó, cụ thể là lãi suất phi rủi ro, phần bù rủi ro và kỳ vọng tăng trưởng lợi nhuận của công ty.
Trong phân tích thứ nhất, tác giả xem xét chiều hướng của lạm phát ngoài kỳ vọng (“tin tốt” hay “tin xấu”) và tình trạng của nền kinh tế (“suy thoái” hay “không suy thoái”). Trong phân tích thứ hai, mô hình chiết khấu cổ tức (Dividend Discount Model - DDM) được sử dụng như khung lý thuyết để kiểm soát các thành phần chính của giá cổ phiếu: lãi suất phi rủi ro, phần bù rủi ro cổ phiếu và kỳ vọng tăng trưởng lợi nhuận của công ty. Câu hỏi nghiên cứu Từ mục tiêu nghiên cứu trên, cho thấy câu hỏi nghiên cứu của luận văn như sau: - Yếu tố lạm phát ngoài kỳ vọng tác động đến tỷ suất sinh lợi cổ phiếu theo ngành trong ngắn hạn như thế nào trong từng trường hợp (tin tốt hay tin xấu, kinh tế suy thoái hay không suy thoái)? - Nếu có sự tác động của lạm phát ngoài kỳ vọng tác động đến tỷ suất sinh lợi cổ phiếu theo ngành thì yếu tố nào giải thích cho sự tác động đó (lãi suất phi rủi ro, phần bù rủi ro hay kỳ vọng tăng trưởng lợi nhuận của công ty)? 1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1.
Đối tượng nghiên cứu Bài nghiên cứu sẽ tiến hành quan sát, đo lường những phản ứng của tỷ suất sinh lợi cổ phiếu theo ngành (được thể hiện thông qua chỉ số giá cổ phiếu của từng ngành trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh), lãi suất phi rủi ro, phần bù rủi ro, kỳ vọng tăng trưởng đối với thông tin lạm phát ngoài kỳ vọng (được tính toán thông qua chỉ số giá tiêu dùng CPI). Phạm vi nghiên cứu Thứ nhất, khung thời gian được lựa chọn để thực hiện nghiên cứu bắt đầu từ tháng 8 năm 2008 đến tháng 7 năm 2015. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 Thứ hai, trong phạm vi đề tài này, tác giả chỉ nghiên cứu giới hạn đối tượng là các ngành có thể lấy đầy đủ số liệu giá cả cổ phiếu trong thời gian nghiên cứu, không nghiên cứu tất cả các ngành trên thị trường. Thứ ba, nghiên cứu này chỉ tập trung vào tác động ngắn hạn trong khung thời gian nghiên cứu, tác động dài hạn không được xem xét trong phạm vi đề tài này.
Thứ tư, đề tài không tập trung quá chi tiết về phương pháp mô hình kinh tế lượng. Phương pháp nghiên cứu - Tác giả ước lượng yếu tố lạm phát ngoài kỳ vọng từ chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bằng mô hình ARIMA. - Ước lượng những phản ứng của tỷ suất sinh lợi chứng khoán theo ngành, lãi suất phi rủi ro, phần bù rủi ro, kỳ vọng tăng trưởng đối với thông tin lạm phát ngoài kỳ vọng bằng mô hình OLS. Bố cục của bài nghiên cứu Ngoài phần mục lục, danh mục các bảng, danh mục các từ viết tắt, tài liệu tham khảo, phụ lục, tóm tắt, phần giới thiệu, phần còn lại của bài nghiên cứu có cấu trúc như sau: Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây.
Chương 3: Mô tả về phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Chương 5: Kết luận, nêu những kết quả nghiên cứu chính và hạn chế của đề tài TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. Các lí luận về tác động của lạm phát đến lợi suất đầu tư cổ phiếu 2.
Lý thuyết Fisher Theo quan điểm của Fisher, lạm phát không ảnh hưởng đến suất sinh lợi thực của cổ phiếu. Lý thuyết Fisher cho rằng thị trường chứng khoán đóng vai trò như là một hàng rào chắn chống lại lạm phát. Điều này ngụ ý rằng các nhà đầu tư được bồi thường đầy đủ bằng sự gia tăng của mức giá chung thông qua sự gia tăng tương ứng suất sinh lợi danh nghĩa từ cổ phiếu đủ lớn để bao gồm tỷ lệ lạm phát và suất sinh lợi thực mà nhà đầu tư yêu cầu và do đó suất sinh lợi thực sự vẫn không bị ảnh hưởng. Theo lý thuyết Fisher, khi nghiên cứu nên sử dụng suất sinh lợi cổ phiếu thực tế hơn là suất sinh lợi cổ phiếu danh nghĩa, và ông cho rằng suất sinh lợi cổ phiếu thực sự phải độc lập với lạm phát.
Để kiểm chứng điều này, các nghiên cứu thường sử dụng mô hình hồi quy suất sinh lợi cổ phiếu với tỉ lệ lạm phát như sau: R = + .E ( / t-1) + t (1) Trong công thức trên, hệ số đại diện cho suất sinh lợi thực, lạm phát kì vọng được xây dựng dựa vào thông tin trong quá khứ t-1 và hệ số là hệ số đo lường sự tác động của lạm phát kì vọng lên suất sinh lợi danh nghĩa. Nếu lý thuyết Fisher được ủng hộ, thì kết quả hồi qui sẽ có một giá trị và dương và có giá trị về mặt thống kê. Nếu hệ số không có giá trị về mặt thống kê thì có nghĩa là biến động của lạm phát không tác động lên suất sinh lợi cổ phiếu hay nói cách khác đầu tư vào cổ phiếu không đảm bảo sẽ nhận được suất sinh lợi bù đắp được biến động trong lạm phát. Các tranh luận khác về tác động của lạm phát đối với cổ phiếu Các nghiên cứu kiểm chứng lý thuyết Fisher đã liên tục được thực hiện từ khi lý thuyết này ra đời.
Mặc dù sức thuyết phục của lý thuyết Fisher rất cao nhưng các nghiên cứu số liệu thực tế về đầu tư chứng khoán lại không ủng hộ lý thuyết này TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 một cách mạnh mẽ và thống nhất. Cụ thể nghiên cứu của Fama và Schwert (1977) thực hiện trên thị trường chứng khoán Mỹ cho giai đoạn từ năm 1953 đến năm 1971 cho thấy trong khi trái phiếu và tín phiếu chính phủ là lá chắn lạm phát an toàn thì cổ phiếu phổ thông lại không phải thế và hệ số beta của phương trình hồi qui trên nhận giá trị âm khi được kiểm chứng đối với suất sinh lợi cổ phiếu phổ thông. Nghiên cứu của Gultekin (1983) kiểm tra mối quan hệ giữa tỷ suất sinh lợi cổ phiếu với tỉ lệ lạm phát ở 26 quốc gia trên thế giới (ngoại trừ Mỹ và Anh) cho giai đoạn từ 1947 đến 1979. Kết quả nghiên cứu này cho thấy hệ số beta của phương trình hồi qui không thống nhất cho từng giai đoạn nhỏ cũng như khác nhau giữa các quốc gia nhưng trong đa phần các trường hợp thì hệ số beta này nhận giá trị âm.
Giải thích cho các kết quả trên có hai trường phái. Trường phái thứ nhất là giả thuyết hoạt động kinh tế thực (real activity hypothesis) cho rằng hoạt động kinh tế thực có ảnh hưởng tác động lên tỷ lệ lạm phát. Trường phái thứ hai, giả thuyết cung tiền (monetary supply) cho rằng chính lạm phát và các chính sách kiểm soát lạm phát của chính phủ đã tác động lên suất sinh lợi của các cơ hội đầu tư trong đó có đầu tư chứng khoán. Giả thuyết hoạt động kinh tế thực: Tiên phong cho giả thuyết này là Fama trong nghiên cứu của ông năm 1981 và nghiên cứu của ông cùng Gibbons năm 1982 trong đó cho rằng khi các hoạt động kinh tế thực diễn ra thuận lợi sôi nổi, đem lại suất sinh lợi cao cho vốn đầu tư đồng thời tạo ra khối hàng hóa và dịch vụ lớn cho nền kinh tế, thì sẽ làm cung hàng hóa dịch vụ tăng cao hơn tương đối so với cung tiền.
Hay nói cách khác, hoạt động trong nền kinh tế thực tăng trưởng sẽ làm giảm lạm phát. Chính vì thế, tỉ lệ lạm phát và suất sinh lợi đầu tư cổ phiếu có quan hệ nghịch biến. Ông lập luận rằng mối quan hệ ngược chiều giữa suất sinh lợi chứng khoán và lạm phát có cơ sở theo lý thuyết cung tiền và lý thuyết tiền tệ. Giả thuyết Fama cho rằng tỷ lệ lạm phát tăng cao làm giảm hoạt động kinh tế và nhu cầu thực sự.
Khi các hoạt động kinh tế giảm, nó ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận của công ty trong tương lai và do đó, giá cổ phiếu giảm.