đặt vấn đề nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, nội dung, phạm vi và phương pháp nghiên cứu liên quan đến đề tài điều chỉnh lợi nhuận và thanh khoản cổ phiếu. Chương 2 – Lý thuyết về điều chỉnh lợi nhuận và thanh khoản cổ phiếu Trình bày các khái niệm cơ bản, cách đo lường điều chỉnh lợi nhuận, thanh khoản. Đồng thời, mối liên hệ, hoặc tác động của điều chỉnh lợi nhuận lên thanh khoản là như thế nào? Sau đó, tác giả tổng quan các nghiên cứu gần đây nhất (trên thế giới và Việt Nam) về mối quan hệ điều chỉnh lợi nhuận và thanh khoản. Từ đó có một sự định hướng rõ ràng hơn trong việc xây dựng mô hình nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Chương 3 – Thực trạng Điều chỉnh lợi nhuận và thanh khoản cổ phiếu Trình bày về thực trạng điều chỉnh lợi nhuận và thanh khoản cổ phiếu tại TTCK Việt Nam. Chương 4 – Nghiên cứu thực nghiệm Trình bày giả thuyết nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, nguồn dữ liệu cũng như cách xác định các biến số được sử dụng trong nghiên cứu về mối quan hệ giữa điều chỉnh lợi nhuận và thanh khoản cổ phiếu. Trình bày thống kê mô tả cho các biến số trong mô hình hồi quy, phân tích tương quan và kiểm định các giả thuyết hồi quy. Quan trọng nhất kết quả hồi quy đến từ mô hình hồi quy và các thảo luận về kết quả của mô hình thể hiện mối quan hệ giữa điều chỉnh lợi nhuận và thanh khoản cổ phiếu.
Chương 5 – Kết luận Phần này tác giả tóm tắt kết quả nghiên cứu, những gợi ý về mặt chính sách cũng như nêu lên những hạn chế của đề tài và những hướng mở rộng nghiên cứu tiếp theo. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 CHƯƠNG 2: LÝ THUYẾT VỀ ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN VÀ THANH KHOẢN CỔ PHIẾU 2. Điều chỉnh lợi nhuận 2. Định nghĩa Báo cáo tài chính được xem là một kênh truyền dẫn thông tin từ doanh nghiệp ra bên ngoài.
Trong đó, các nhà đầu tư, các chủ nợ, người lao động, nhà phân tích tài chính, khách hàng và các nhà cung cấp là những người trực tiếp sử dụng các báo cáo này. Tuy vậy, các nhà quản lý (NQL) có động cơ để đánh lừa người sử dụng, trong một số trường hợp, nhà quản lý tiến hành “điều chỉnh” lợi nhuận (Earnings Management). Điều chỉnh lợi nhuận là “một sự can thiệp có cân nhắc trong quá trình cung cấp thông tin tài chính nhằm đạt được những mục đích cá nhân” (Schipper, 1998). Điều chỉnh lợi nhuận được sử dụng để che giấu các con số thực sự của công ty đối với các cổ đông và các bên liên quan, không phản ánh được các nền tản tài chính của doanh nghiệp (Healy and Wahlen,1999).
Thuật ngữ “Điều chỉnh lợi nhuận” được biết đến với các thuật ngữ khác nhau như “xào nấu số liệu”, “thổi phồng lợi nhuận”, “phù phép lợi nhuận”, “nghệ thuật tính toán kết quả”… Một khi các báo cáo tài chính bị “bóp méo” quá nhiều, nó sẽ gây ra những khó khăn cho những người sử dụng báo cáo này để đánh giá tình hình hoạt động và hiệu quả hoạt động của DN. Do đó, các báo cáo được “thẩm mỹ” quá nhiều có thể gây nhầm lẫn cho người sử dụng và gây ra những hậu quả nghiêm trọng (Chih-Fong Tsai, 2009). Tuy vậy, các bằng chứng thực nghiệm đã chỉ ra điều chỉnh lợi nhuận thì ngày càng trở nên phổ biến trong các doanh nghiệp ((Richardson, 2000). Mục đích của điều chỉnh lợi nhuận Nhà quản lý (NQL) có thể có nhiều động cơ để thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận, trong một số trường hợp, nhà quản lý tiến hành “điều chỉnh” lợi nhuận để TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 đáp ứng những mục tiêu riêng (Ayers, Jiang, & Yeung, 2006; Bergstresser & Philippon, 2006).
Một cách chi tiết, các động cơ đó có thể là: Thứ nhất, trong mối quan hệ với cổ đông, NQL được giao trách nhiệm phải hoàn thành các chỉ tiêu mà cổ đông đã thông qua tại đại hội đồng cổ đông. Trong nhiều nhóm chỉ tiêu, có nhóm chỉ tiêu về kinh doanh và quan trọng nhất là chỉ tiêu về lợi nhuận. Điều này tạo ra áp lực lớn và khiến cho các NQL thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận khi lợi nhuận thực tế không đạt được như mức chỉ tiêu đề ta. Đối với các cổ đông tiềm năng, những nhà đầu tư mới, các nhà quản lý đã điều chỉnh lợi nhuận, nhằm chứng minh được triển vọng về doanh thu, về lợi nhuận trong tương lai của DN.
Điều này giúp DN thu hút được những nhà đầu tư, những cổ đông mới, giúp cho DN huy động vốn dễ dàng hơn với chi phí thấp hơn. Thứ 2, trong mối quan hệ với chủ nợ, một báo cái tài chính đẹp, với các khoản lợi nhuận cao, ổn định sẽ thuyết phục các chủ nợ của DN. Trái phiếu của DN sẽ được phát hành trái phiếu với lãi suất thấp hơn. Các ngân hàng, các công ty tài chính, DN phải ký kết hợp đồng với nhiều điều khoản ràng buộc dựa trên các chỉ tiêu tài chính.
Do đó, NQL có động cơ để điều chỉnh lợi nhuận nhằm vượt qua các ràng buộc với bên cung cấp tín dụng. DN sẽ có được những khoản tín dụng với thời gian dài hơn và chi phí thấp hơn. Thứ ba, trong mối quan hệ với các cơ quan thuế, và cơ quan nhà nước, DN cũng có thể điều chỉnh lợi nhuận nhằm tránh công bố các mức lợi nhuận cao, để tránh cơ quan quản lý Nhà nước có những hành động chính sách điều tiết hoạt động của DN như giảm các chính sách ưu đãi đang đem lại lợi ích cao cho DN. Liên quan đến thuế, DN phải đóng thuế thu nhập DN dựa trên lợi nhuận phải chịu thuế.
DN tiến hành điều chỉnh lợi nhuận tại các thời điểm mà luật thuế có sự thay đổi, điều này làm giảm lợi nhuận chịu thuế, từ đó giảm số thuế thu nhập phải nộp. Cuối cùng, vì các lợi ích cá nhân, NQL sẽ được hưởng nhiều quyền lợi khi hoàn thành các chỉ tiêu được giao, chẳng hạn như các khoản thưởng, đề bạt, tăng lương và cả việc giữ được vị trí của mình. Do đó, nếu không hoàn thành các chỉ tiêu lợi nhuận, NQL có thể điều chỉnh tăng lợi nhuận để đạt được các chỉ tiêu này, hoặc khi TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 đã đạt vượt chỉ tiêu lợi nhuận nhưng mức thưởng có giới hạn, NQL có thể điều chuyển bớt lợi nhuận sang năm sau. Mặt khác, NQL cũng có thể sở hữu cổ phiếu của DN.
Khi này, nếu muốn bán đi số cổ phiếu nắm giữ và thu lợi được mức cao, NQL cũng có thể điều chỉnh lợi nhuận tăng để tác động vào giá cổ phiếu nhằm thu lợi (giao dịch nội gián). Khả năng điều chỉnh lợi nhuận Lợi nhuận là chênh lệch giữa doanh thu và chi phí, từ đó, việc ghi nhận doanh thu và chi phí có tính quyết định đến lợi nhuận báo cáo trong một kỳ nào đó. Hành động điều chỉnh lợi nhuận phát sinh là do các chuẩn mực kế toán chung được thừa nhận (GAAPs) cho phép nhà quản trị linh hoạt trong việc lựa chọn phương pháp kế toán và ước tính kế toán (Phan Thị Bích Vân, 2012). Chế độ kế toán hiện hành quy định rằng, kế toán DN phải được thực hiện theo cơ sở dồn tích.
Dechow và Skinner (2000) chỉ ra một thếu sót tiềm năng của kế toán dồn tích là nó tạo ra cơ hội cho việc “điều chỉnh” lợi nhuận. Chế độ kế toán nãy đưa nhiều lựa chọn cho mỗi loại giao dịch (đối tượng) có liên quan đến ghi nhận doanh thu và chi phí. Một số phương pháp kế toán cho phép ghi nhận doanh thu sớm hơn và chuyển dịch ghi nhận chi phí về sau sẽ làm tăng lợi nhuận báo cáo trong kỳ và ngược lại. Cụ thể: Lựa chọn phương pháp ghi nhận doanh thu: các NQL có thể vận dụng phương pháp phần trăm hoàn thành để ghi nhận doanh thu và chi phí trong hoạt động cung cấp dịch vụ và hợp đồng xây dựng.
Phương pháp này cho phép DN ghi nhận mức doanh thu lớn hơn hoặc nhỏ hơn thực tế theo tỷ lệ ước tính tiến độ thực hiện hợp đồng. Lựa chọn phương pháp xác định giá trị hàng tồn kho, phương pháp khấu hao: các NQL lựa chọn các phương pháp xác định hàng tồn kho khác nhau (bình quân, nhập trước – xuất trước, nhập sau-xuất trước, đích danh) ảnh hưởng đế ghi nhận giá vốn hàng bán trong kỳ, và từ đó, ảnh hưởng đến lợi nhuận báo cáo trong kỳ; Lựa chọn phương pháp khấu hao tài sản cố định. Mỗi một phương pháp khấu hao (đường thẳng, tỷ lệ sử dụng, số dư giảm dần có điều chỉnh) cho chi phí khấu hao khác nhau. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 Lựa chọn thời điểm ghi nhận chi phí: Các loại chi phí có thể chuyển dịch thời điểm ghi nhận bao gồm: chi phí bảo hiểm hỏa hoạn, giá trị công cụ, dụng cụ phân bổ nhiều kỳ, chi phí sửa chữa lớn tài sản cố định, chi phí quảng cáo, chi phí bảo hành sản phẩm.
Những loại chi phí này có thể được ghi nhận vào niên độ phát sinh hoặc phân bổ cho một số kỳ (dựa vào nguyên tắc phù hợp). NQL quyết định chuyển dịch về sau (hoặc ghi nhận sớm hơn) một số loại chi phí sẽ làm giảm (hoặc tăng) chi phí của niên độ hiện hành. Lựa chọn thời điểm đầu tư hay thanh lý tài sản cố định: các NQL có thể quyết định khi nào và mức độ các chi phí quảng cáo, chi phí sửa chữa, nâng cấp cải tạo tài sản cố định được chi ra.Nhà quản trị cũng có thể quyết định thời điểm thanh lý, nhượng bán tài sản cố định để đẩy nhanh hoặc làm chậm lại việc ghi nhận lợi nhuận hay thua lỗ hoạt động khác. Đẩy nhanh hay làm chậm lại việc gửi hàng cho khách hàng vào thời điểm gần cuối niên độ cũng có ảnh hưởng đến chỉ tiêu lợi nhuận báo cáo trong kỳ.
Các phương án trên có thể được NQL vận dụng tổng hợp để điều chỉnh lợi nhuận mục tiêu của một hoặc một vài kỳ kế toán. Mức biến động lợi nhuận phụ thuộc vào giới hạn cho phép (hay mức linh hoạt) của các phương pháp kế toán. Mặc dù, động lực đăng sau việc điều chỉnh lợi nhuận là không hoàn toàn xấu như các tình huống vừa nên, nhưng điều chỉnh lợi nhuận có thể làm giảm độ tin cậy của báo cáo tài chính.