Chương 1: Một số vấn đề lý luận về phát triển kinh tế và đầu tư trực tiếp nước ngoài Chương 2: Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài từ Nhật Bản tới sự phát triển kinh tế Việt Nam từ năm 2000 tới nay Chương 3: Giải pháp phát huy những tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ Nhật Bản vào Việt Nam 7 (LUAN.nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nam CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI 1. Phát triển kinh tế 1. Khái niệm phát triển kinh tế Nhiều tài liệu chuyên môn và các nghiên cứu khoa học kinh tế đã đưa ra khái niệm “phát triển kinh tế” theo những cách diễn đạt và minh họa khác nhau. Nhưng về cơ bản, có thể hiểu ngắn gọn “phát triển kinh tế” là “quá trình tăng tiến toàn diện về mọi mặt trong nền kinh tế của một quốc gia hoặc một địa phương”.
Vì “phát triển kinh tế” là một quá trình do đó nó có sự tiến hóa theo thời gian và do những nhân tố nội tại bên trong quyết định đến toàn bộ quá trình phát triển đó. Nội dung của phát triển kinh tế bao gồm: Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế dài hạn. Đây là điều kiện tiên quyết để tạo ra những tiến bộ về kinh tế - xã hội, nhất là ở các nước đang phát triển có thu nhập thấp. Thứ hai, cơ cấu kinh tế - xã hội thay đổi theo hướng tiến bộ.
Xu hướng tiến bộ của quá trình thay đổi này ở những nước đang phát triển, đang hoặc chưa trải qua quá trình công nghiệp hoá thể hiện ở quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá và đô thị hoá. Đó không đơn thuần là sự giă tăng về quy mô, mà còn bao hàm việc mở rộng chủng loại và nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá, dịch vụ được sản xuất ra; hoạt động của nền kinh tế ngày càng gia tăng hiệu quả và năng lực cạnh tranh, tạo cơ sở cho việc đạt được những tiến bộ xã hội một cách sâu rộng. Thứ ba, những tiến bộ kinh tế - xã hội chủ yếu phải xuất phát từ động lực nội tại. Đến lượt mình kết quả của những tiến bộ kinh tế đạt được lại làm 8 (LUAN.nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nam gia tăng không ngừng năng lực nội sinh của nền kinh tế (thể hiện ở những tiến bộ về công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và nguồn vốn…).
Thứ tư, đạt được sự cải thiện sâu rộng chất lượng cuộc sống của mọi thành viên trong xã hội là hàng đầu và là kết quả của sự phát triển. Đương nhiên một kết quả như thế không chỉ là sự ra tăng thu nhập bình quân đầu người, mà đằng sau nó còn cần khắc phục những sự phân phối bất bình đẳng, nạn đói nghèo, thất nghiệp và những thụ hưởng khác về giáo dục, y tế, văn hoá… Cũng theo lý thuyết tăng trưởng và phát triển kinh tế của kinh tế học phát triển: Phát triển kinh tế là khái niệm có nội dung phản ánh rộng hơn so với khái niệm tăng trưởng kinh tế. Nếu như tăng trưởng kinh tế về cơ bản chỉ là sự gia tăng thuần tuý về mặt lượng của các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp: GNP, GNP/đầu người hay GDP, GDP/đầu người… thì phát triển kinh tế ngoài việc bao hàm quá trình gia tăng đó, còn có một nội hàm phản ánh rộng lớn hơn, sâu sắc hơn, đó là những biến đổi về mặt chất của nền kinh tế – xã hội, mà trước hết là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và kèm theo đó là việc không ngừng nâng cao mức sống toàn dân, trình độ phát triển văn minh xã hội thể hiện ở hàng loạt tiêu chí như: thu nhập thực tế, tuổi thọ trung bình, tỷ lệ chết của trẻ sơ sinh, trình độ dân trí, bảo vệ môi trường, và khả năng áp dụng các thành tựu khoa học – kỹ thuật vào phát triển kinh tế – xã hội… Phát triển kinh tế theo chiều rộng là phát triển kinh tế bằng cách tăng số lượng lao động, khai thác thêm các nguồn tài nguyên thiên nhiên, tăng thêm tài sản cố định và tài sản lưu động trên cơ sở kĩ thuật có trước. Trong điều kiện một nước kinh tế chậm phát triển, những tiềm năng kinh tế chưa được khai thác và sử dụng hết, nhất là nhiều người lao động chưa có việc làm thì phát triển kinh tế theo chiều rộng là cần thiết và có ý nghĩa quan trọng, nhưng 9 (LUAN.nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nam đồng thời phải coi trọng phát triển kinh tế theo chiều sâu.
Nó thể hiện ở chỗ mức tăng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân vừa dựa vào lực lượng lao động và tài sản cố định, vừa dựa vào cải tiến thiết bị, kĩ thuật, công nghệ và tăng năng suất lao động. Tuy nhiên, phát triển kinh tế theo chiều rộng có những giới hạn, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội thấp. Vì vậy, phương hướng cơ bản và lâu dài là phải chuyển sang phát triển kinh tế theo chiều sâu. Phát triển kinh tế theo chiều sâu là phát triển kinh tế chủ yếu nhờ đổi mới thiết bị, áp dụng công nghệ tiên tiến, nâng cao trình độ kĩ thuật, cải tiến tổ chức sản xuất và phân công lại lao động, sử dụng hợp lí và có hiệu quả các nguồn nhân tài, vật lực hiện có.
Trong điều kiện hiện nay, những nhân tố phát triển theo chiều rộng đang cạn dần, cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật trên thế giới ngày càng phát triển mạnh với những tiến bộ mới về điện tử và tin học, công nghệ mới, vật liệu mới, công nghệ sinh học đã thúc đẩy các nước coi trọng chuyển sang phát triển kinh tế theo chiều sâu. Kết quả phát triển kinh tế theo chiều sâu được biểu hiện ở các chỉ tiêu: tăng hiệu quả kinh tế, tăng năng suất lao động, giảm giá thành sản phẩm, giảm hàm lượng vật tư và tăng hàm lượng chất xám, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng hiệu suất của đồng vốn, tăng tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân theo đầu người. Ở Việt Nam và một số nước chậm phát triển, do điều kiện khách quan có tính chất đặc thù, kinh tế chậm phát triển, nên phát triển kinh tế theo chiều rộng vẫn còn có vai trò quan trọng. Nhưng để mau chóng khắc phục sự lạc hậu, đuổi kịp trình độ phát triển chung của các nước trên thế giới, trước hết là các nước trong khu vực, thì phát triển kinh tế theo chiều sâu phải được coi trọng và kết hợp chặt chẽ với phát triển theo chiều rộng trong phạm vi cần thiết và điều kiện có cho phép.
Với nội hàm rộng lớn trên đây, về cơ bản khái niệm phát triển kinh tế đã đáp ứng được các nhu cầu đặt ra cho sự phát triển toàn diện nhiều lĩnh vực 10 (LUAN.nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nam kinh tế, văn hoá, xã hội…Tuy nhiên như đã biết, trong khoảng hơn hai thập niên vừa qua, do xu hứớng hội nhập, khu vực hoá, toàn cầu hoá phát triển ngày càng mạnh mẽ hơn nên đã nảy sinh nhiều vấn đề dù là ở phạm vi từng quốc gia, lãnh thổ riêng biệt, song lại có ảnh hưởng chung đến sự phát triển của cả khu vực và toàn thế giới, trong đó có những vấn đề cực kỳ phức tạp, nan giải đòi hỏi phải có sự chung sức của cả cộng đồng nhân loại, ví dụ như: môi trường sống, thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh, khủng bố… Từ đó đòi hỏi sự phát triển của mỗi quốc gia, lãnh thổ và cả thế giới phải được nâng lên tầm cao mới cả về chiều rộng và chiều sâu của sự hợp tác, phát triển. Thực tiễn đó đã thúc đẩy sự ra đời một khái niệm mới về phát triển mang nội hàm phản ánh tổng hợp hơn, toàn diện hơn tất cả các khái niệm về tăng trưởng kinh tế, phát triển kinh tế…, đó là khái niệm phát triển bền vững. Các yếu tố đo lƣờng sự phát triển của một nền kinh tế Phát triển kinh tế bao gồm sự tăng trưởng kinh tế và đồng thời có sự hoàn chỉnh về mặt cơ cấu, thể chế kinh tế, và bảo đảm công bằng xã hội. Nội dung của phát triển kinh tế bao gồm: Sự tăng lên của tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc dân (GNP) và tổng sản phẩm quốc dân tính theo đầu người.
Sự tăng trưởng kinh tế hay gia tăng về quy mô sản lượng của nền kinh tế này phải diễn ra trong một thời gian tương đối dài và ổn định. Đó là các chỉ tiêu phản ánh quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm hay của một giai đoạn nhất định như tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, tốc độ tăng trưởng bình quân đầu người. Các chỉ tiêu này có thể tính cho cả nền kinh tế hay theo bình quân đầu người. Sự biến đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ, thể hiện ở tỷ trọng các ngành dịch vụ và công nghiệp trong tổng sản phẩm quốc dân tăng lên, còn tỷ 11 (LUAN.nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nam trọng nông nghiệp ngày càng giảm xuống.
Tỷ trọng các vùng, miền, thành phần kinh tế thay đổi. Trong đó tỷ trọng của vùng nông thôn giảm tuơng đối so với tỷ trọng của vùng thành thị. Nó là các chỉ tiêu phản ánh sự thay đổi về chất, về trình độ phát triển kinh tế, bao gồm các chỉ tiêu phản ánh sự thay đổi cơ cấu kinh tế (cơ cấu kinh tế theo ngành, cơ cấu thương mại quốc tế) và các chỉ tiêu phản ánh sự biến đổi về cơ cấu xã hội, cơ cấu dân cư. Gắn với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa là quá trình biến đổi cơ cấu dân cư theo vùng.
Trong các chỉ tiêu này, chỉ tiêu cơ cấu dân số nông thôn – đô thị có ý nghĩa quan trọng phản ánh quá trình đô thị hóa gắn với quá trình công nghiệp hóa đất nước. Sự biến đổi cơ cấu dân cư còn thể hiện qua các chỉ tiêu như: cơ cấu giới tính, cơ cấu độ tuổi, cơ cấu theo trình độ đào tạo. Các chỉ tiêu phản ánh năng lực nội sinh của nền kinh tế gồm các chỉ tiêu như: tỷ lệ tiết kiệm (đầu tư) trên GDP, các chỉ tiêu phản ánh trình độ năng lực công nghệ quốc gia, các chỉ tiêu phản ánh chất lượng của nguồn lao động. Mức độ thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của xã hội thể hiện bằng sự tăng lên của thu nhập thực tế, chất lượng giáo dục, y tế… mà mỗi người dân được hưởng.