Chương I: Giới thiệu Ø Chương II: Tổng quan các nghiên cứu trước đây Ø Chương III: Phương pháp nghiên cứu Ø Chương IV: Kết quả nghiên cứu Ø Chương V: Kết luận 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 CHƯƠNG II: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Khung lý thuyết Về cơ bản lý thuyết quản trị vốn luân chuyển bao gồm ba (03) phương pháp cơ bản là phương pháp quản trị thận trọng, phương pháp quản trị mạo hiểm và phương pháp quản trị trung dung (Nwankwo (2005)). Chính sách quản trị vốn luân chuyển mạo hiểm là việc cắt giảm tối thiểu lượng tiền mặt và hàng tồn kho của doanh nghiệp. Chính sách này được cho là “mạo hiểm” vì doanh nghiệp có thể không đủ lượng hàng tồn kho để cung ứng khi nhu cầu thị trường tăng cao, do đó sẽ bị lỡ mất cơ hội gia tăng doanh số, ngoài ra còn có thể bị mất thị phần vào tay các đối thủ vì nếu tình trạng “đứt hàng” xảy ra thường xuyên thì khách hàng sẽ tìm nhà cung cấp khác có nguồn hàng ổn định hơn. Bên cạnh đó, việc nắm giữ lượng tiền mặt thấp cũng khiến doanh nghiệp có thể lỡ mất cơ hội đầu cơ nguồn nguyên liệu hay hàng hóa đầu vào khi giá nguyên liệu trên thị trường xuống thấp, hoặc giảm vị thế đàm phán của doanh nghiệp khi lựa chọn nhà cung cấp, điều này có thể khiến chi phí đầu vào tăng lên.
Tuy nhiên, xét về khía cạnh lượng tài sản lưu động như trên thì chính sách mạo hiểm cũng có ưu điểm là làm giảm lượng vốn tài trợ cho tài sản lưu động vì không bị chôn vốn quá nhiều vào hàng tồn kho hay tiền mặt nhàn rỗi, qua đó góp phần giảm chi phí sử dụng vốn. Việc tài trợ cho tài sản lưu động hoàn toàn bằng nguồn nợ ngắn hạn cũng có lợi bởi tính linh hoạt và lãi suất thấp của nợ ngắn hạn. Ngược lại, chính sách quản trị vốn luân chuyển thận trọng lại thể hiện một thái cực hoàn toàn đối lập với chính sách mạo hiểm ở trên, chính sách thận trọng phản ánh việc doanh nghiệp gia tăng đáng kể lượng tiền mặt và hàng tồn kho nắm giữ. Việc này giúp doanh nghiệp có thể tận dụng mọi cơ hội gia tăng doanh số khi nhu cầu tăng, tăng thị phần hoặc thậm chí thống lĩnh thị trường vì nguồn hàng ổn định và dồi dào đáp ứng nhu cầu kịp thời.
Ngoài ra, với lượng tiền mặt lớn, doanh nghiệp có thể đàm phán được giá tốt hoặc đầu cơ nguyên liệu và hàng hóa đầu vào 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 với giá rẻ. Việc tài sản lưu động được tài trợ hoàn toàn bằng nguồn vốn dài hạn bao gồm nợ dài hạn và vốn chủ sở hữu giúp doanh nghiệp giảm áp lực về vòng quay tiền hàng tháng, thậm chí có thể gia tăng công nợ cho khách hàng và thông qua chính sách bán chịu này lại có thể thúc đẩy tăng doanh số và thị phần. Khả năng thanh toán của doanh nghiệp được đảm bảo và giảm thiểu rủi ro mất khả năng thanh toán, luôn chủ động đáp ứng được nhu cầu thị trường, đó là những lý do chính để chính sách này được cho là “thận trọng”. Tuy nhiên, một nhược điểm lớn của chính sách này chính là chi phí sử dụng vốn sẽ tăng cao vì một lượng vốn lớn nằm trong hàng tồn kho, tiền nhàn rỗi và khoản phải thu (nếu doanh nghiệp quyết định gia tăng công nợ cho khách hàng), cộng với việc lãi suất của nợ dài hạn và vốn chủ sở hữu thường cao hơn nợ ngắn hạn.
Tài trợ cho tài sản lưu động hoàn toàn bằng nguồn dài hạn làm giảm tính linh hoạt trong sử dụng vốn do việc huy động nguồn dài hạn rất tốn thời gian, nhà đầu tư và ngân hàng thường phải thẩm định kỹ và khắt khe hơn, đòi hỏi tài sản thế chấp nhiều hơn và lãi suất cao hơn, nếu trả sớm trước hạn còn có thể bị phạt…Mặt khác, nếu đang trong một nền kinh tế yếu, nhu cầu tiêu thụ hàng hóa giảm thấp thì việc duy trì hàng tồn kho lớn lại vô cùng mạo hiểm, mang lại rủi ro kinh doanh rất lớn. Trong khi đó, chính sách trị vốn lưu động trung dung là sự dung hòa giữa hai chính sách trên, 50% tài sản lưu động được tài trợ bằng nợ ngắn hạn và 50% còn lại được tài trợ bằng nợ dài hạn. Lượng hàng tồn kho và tiền mặt cũng được nắm giữ ở mức độ vừa phải. Như vậy chính sách này vừa có được tính linh hoạt vừa giảm độ rủi ro mất khả năng thanh toán, đảm bảo tình hình tài chính được ổn định.
Tất nhiên chi phí sử dụng vốn trong trường hợp này sẽ cao hơn chính sách mạo hiểm và thấp hơn chính sách thận trọng. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn vẫn còn nhiều tranh luận về việc xác định ảnh hưởng của các chính sách quản trị vốn luân chuyển đến lợi nhuận và rủi ro của doanh nghiệp. Nhiều tác giả ở nhiều quốc gia khác nhau đã tiến hành nghiên cứu thực nghiệm để kiểm chứng nội dung trên và đưa ra những kết quả trái ngược nhau ((T.J Onwumere, Imo 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Vì vậy, việc xác định và duy trì một chính sách quản trị vốn luân chuyển phù hợp cho doanh nghiệp là một vấn đề vô cùng thiết yếu và là một câu hỏi khó.2 Các nghiên cứu thực nghiệm Hiện nay có rất nhiều bài nghiên cứu tại nhiều quốc gia trên thế giới về quản trị vốn luân chuyển, tuy nhiên có rất ít các nghiên cứu trực tiếp liên quan đến nội dung chính sách quản trị vốn luân chuyển ảnh hưởng như thế nào đến tỷ suất sinh lợi và rủi ro của doanh nghiệp.1 Các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa chính sách quản trị vốn luân chuyển và tỷ suất sinh lợi Tác giả đã tìm thấy một số nghiên cứu về mối quan hệ giữa chính sách quản trị vốn luân chuyển tác động lên tỷ suất sinh lợi của doanh nghiệp như sau: C Đầu tiên là bài nghiên cứu “Chính sách quản trị vốn luân chuyển và tỷ suất sinh lợi của các doanh nghiệp Pakistan” của nhóm tác giả T.Nair (2008), nhóm tác giả tiến hành nghiên cứu mối quan hệ giữa chính sách quản trị vốn luân chuyển mạo hiểm/thận trọng của các doanh nghiệp niêm yết thuộc 17 ngành nghề trên sàn chứng khoán Karachi (KSE) bao gồm 263 doanh nghiệp Pakistan trong vòng sáu (06) năm từ năm 1998 đến năm 2003, tạo thành 1.
Trong nghiên cứu của mình, nhóm tác giả đã sử dụng phương pháp OLS để kiểm tra mối quan hệ giữa chính sách quản trị vốn luân chuyển với tỷ suất sinh lợi của doanh nghiệp. Trong đó, chính sách quản trị vốn luân chuyển được đo lường thông qua chỉ số TCA/TA, TCL/TA và tỷ suất sinh lợi của doanh nghiệp được đo lường thông qua ROA và ROE. Các biến này được đo lường bằng số bình quân trong sáu (06) năm. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Kết quả nghiên cứu từ Phụ lục 1.1 cho thấy có mối tương quan nghịch chiều giữa chính sách quản trị vốn luân chuyển mạo hiểm đối với tỷ suất sinh lợi của doanh nghiệp, nghĩa là khi doanh nghiệp áp dụng chính sách quản trị vốn luân chuyển càng mạo hiểm thì tỷ suất sinh lợi của doanh nghiệp càng giảm và ngược lại.
Ngoài ra, nhóm tác giả cũng đã chỉ ra rằng có sự khác biệt đáng kể giữa chính sách quản trị vốn luân chuyển giữa các ngành nghề khác nhau. Hơn nữa, những khác biệt này có xu hướng ổn định qua các thời kỳ và chính sách đầu tư vốn luân chuyển mạo hiểm thường đi kèm theo chính sách tài trợ vốn luân chuyển mạo hiểm. C Trong bài nghiên cứu “Ảnh hưởng của chính sách quản trị vốn luân chuyển lên tỷ suất sinh lợi của các doanh nghiệp Nigeria” của nhóm tác giả J.C Ugban (2012), nhóm tác giả tiến hành khảo sát 28 doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Nigeria cho giai đoạn năm (05) năm từ năm 2004 đến 2008 tạo thành 140 quan sát. Nhóm tác giả cũng sử dụng phương pháp OLS trong nghiên cứu của mình.
Nhóm tác giả cũng sử dụng biến độc lập là TCA/TA và TCL/TA để đo lường ảnh hưởng của chính sách quản trị vốn luân chuyển đến tỷ suất sinh lợi ROA của doanh nghiệp. Tuy nhiên, nhóm tác giả đã đưa thêm vào các biến kiểm soát quy mô – SIZE và tỷ lệ nợ – LEVRG trong nghiên cứu của mình. Kết quả hồi quy từ phụ lục 1.2 đã chứng tỏ rằng TCA/TA có ảnh hưởng cùng chiều mạnh đến ROA, trong khi đó TCL/TA cũng có ảnh hưởng cùng chiều nhưng không đáng kể đến ROA của doanh nghiệp Nigeria. Như vậy, ảnh hưởng của TCL/TA đến ROA của doanh nghiệp có sự khác biệt so với nghiên cứu trước đây (ảnh hưởng nghịch chiều), điều này có thể do số lượng mẫu nghiên cứu của tác giả thấp (28 doanh nghiệp).
Kết quả của bài nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng các doanh nghiệp theo đuổi chính sách quản trị vốn luân chuyển mạo hiểm sẽ trở nên rủi ro hơn trong dài hạn vì khi lợi nhuận tăng, doanh nghiệp phát triển sẽ thu hút các khoản đầu tư, cho vay từ bên ngoài. Khi đó lợi nhuận chia cho cổ đông sẽ sụt giảm. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Vì vậy, quản trị vốn luân chuyển phù hợp là thiết yếu nếu các doanh nghiệp muốn đạt được mục tiêu cải thiện tỷ suất sinh lợi và tạo ra giá trị cho các cổ đông. C Trong bài nghiên cứu “Ảnh hưởng của chính sách quản trị vốn luân chuyển mạo hiểm lên tỷ suất sinh lợi của các doanh nghiệp Ấn Độ” của nhóm tác giả Palani và Peer Mohideen (2012), nhóm tác giả tiến hành khảo sát 204 doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Bombay của Ấn Độ (Bombay Stock Exchange – BSE) cho giai đoạn chín (09) năm từ năm 2002 đến 2010 tạo thành 1.
Tác giả sử dụng phân tích tương quan và phương pháp hồi quy OLS trong nghiên cứu của mình. Tác giả cũng sử dụng biến độc lập là TCA/TA và TCL/TA để đo lường ảnh hưởng của chính sách quản trị vốn luân chuyển đến ROA và chỉ số giá trị thị trường Tobin’q của doanh nghiệp. Tuy nhiên, tác giả đã đưa thêm vào các biến kiểm soát quy mô – SIZE, tỷ lệ nợ – LEVRG, tốc độ tăng trưởng – GROWTH và chỉ số tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội – GDPGR trong nghiên cứu của mình. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng chính sách quản trị vốn luân chuyển mạo hiểm có tác động ngược chiều đến ROA.