MỞ ĐẦU 2 1.1 Lý do chọn đề tài Cho đến nay, cả thế giới vẫn đang phải đương đầu với HIV/AIDS, mặc dù được phát hiện từ những năm 80 của thế kỷ trước, song các nhà khoa học vẫn chưa tìm ra thuốc điều trị khỏi HIV, cách duy nhất hiện nay chỉ là kiểm soát không để HIV phát triển nhanh và chuyển sang AIDS. Tuy nhiên, phương pháp này đòi hỏi người nhiễm HIV phải điều trị kéo dài suốt đời. Bên cạnh đó, vấn đề kỳ thị và phân biệt đối xử đã tác động lớn đến những người nhiễm HIV khiến cho họ che dấu tình trạng của mình, không tham gia vào các chương trình phòng, chống và điều trị HIV/AIDS. Điều này vừa làm cho sức khỏe của bản thân người nhiễm suy giảm nhanh chóng vừa làm cho tình hình lây nhiễm HIV trở nên nghiêm trọng hơn trong cộng đồng.
Nhiễm HIV không những ảnh hưởng đến cá nhân người nhiễm mà còn ảnh hưởng không nhỏ đến gia đình và sự phát triển của xã hội. Do chưa có thuốc điều trị khỏi bệnh nên dự phòng lây truyền HIV là cách tốt nhất để hạn chế tối đa lây nhiễm HIV trong cộng đồng. HIV lây truyền từ người sang người qua ba đường lây chính đó là đường máu, đường tình dục và lây truyền từ mẹ sang con. Trong đó, lây truyền từ mẹ sang con là nguyên nhân chính dẫn đến việc trẻ nhỏ bị nhiễm HIV.
Tình trạng lây truyền HIV từ mẹ sang con trên thế giới vẫn còn là vấn đề khó khăn của nhiều quốc gia. Đến cuối năm 2013, thế giới có khoảng 3,2 triệu trẻ em dưới 15 tuổi nhiễm HIV, khoảng 90% trẻ em nhiễm HIV do lây truyền từ mẹ trong thời gian mang thai, khi sinh hoặc khi cho con bú [75]. Riêng ở Việt Nam, số lượng phụ nữ sinh con mỗi năm vào khoảng 1,6 triệu trẻ đến 2 triệu trẻ, trong đó có khoảng 6000 trẻ sinh ra có phơi nhiễm với HIV [53]. Đến cuối năm 2013, Việt Nam có gần 40% phụ nữ mang thai chưa được xét nghiệm HIV và hơn 50% phụ nữ mang thai nhiễm HIV chưa được điều trị dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con.
Trong khi đó, tình hình nhiễm mới trong cộng đồng vẫn gia tăng hàng năm, đặc biệt là lây truyền HIV qua quan hệ tình dục, điều này kéo theo sự gia tăng nhiễm HIV ở phụ nữ và trẻ em[15]. Từ những số liệu liên quan đến vấn đề lây nhiễm HIV từ mẹ sang con trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng cho 3 thấy, đây là vấn đề rất đáng quan tâm, cần thiết phải có biện pháp hạn chế tình trạng trẻ bị lây nhiễm HIV từ mẹ. Hiện nay, dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con nhờ vào sự can thiệp của y tế trong suốt quá trình phụ nữ mang thai và sinh con. Các can thiệp cho phụ nữ nhiễm HIV mang thai đóng một vai trò rất lớn trong việc giảm lây truyền HIV từ mẹ sang con.
Do đó, phụ nữ, khi biết mình có thai thì cần đi khám thai ngay trong thời kỳ đầu của thai kỳ để được xét nghiệm máu nhằm phát hiện sớm một số bệnh lý có thể lây cho thai nhi, đặc biệt là HIV. Nếu người mẹ nhiễm HIV thì sẽ được cung cấp thuốc dự phòng miễn phí theo chương trình dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con tại các cơ sở y tế. Người mẹ tham gia chương trình dự phòng càng sớm thì tỷ lệ lây truyền cho con càng giảm. Nếu phụ nữ mang thai bị nhiễm HIV thì việc lây truyền cho con rất cao từ 30% đến 35%, nhưng khi họ được tham gia vào chương trình phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con thì tỉ lệ lây nhiễm sang con chỉ ở mức 0 - 2% [11].
Dự phòng lây truyền mẹ con tại các cơ sở y tế là rất quan trọng không thể thiếu, nhưng điều cần thiết hơn cả là người phụ nữ mang thai cần trang bị kiến thức về HIV/AIDS và lây truyền HIV từ mẹ sang con trước và trong thời kỳ mang thai để chủ động phòng tránh cho bản thân và cho trẻ. Cho đến nay, truyền thông là biện pháp tốt nhất cung cấp thông tin đến với cộng đồng, trong đó, tuyên truyền về nội dung phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con cho phụ nữ mang thai là điều cần thiết, bởi vì, để phụ nữ mang thai chủ động, tích cực tham gia vào chương trình dự phòng thì họ phải có kiến thức: HIV lây truyền như thế nào, phòng HIV ra sao, đặc biệt là kiến thức về lây truyền HIV từ mẹ sang con. Thời gian qua, truyền thông đã và đang thực hiện tuyên truyền HIV/AIDS nhằm mục đích cung cấp kiến thức cho cộng đồng, thế nhưng nhóm phụ nữ mang thai đã hình thành đầy đủ và chính xác những kiến thức về HIV/AIDS và lây truyền HIV từ mẹ sang con thông qua các loại hình truyền thông này hay chưa? Những kiến thức nào họ hiểu sai và truyền thông cần tuyên truyền đến họ? Loại hình truyền thông nào có tác động đến việc thay đổi nhận thức và hành vi phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con? 4 Xuất phát từ những lý do trên, tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài “Tác động của truyền thông đến nhận thức và hành vi của phụ nữ mang thai trong việc phòng, chống lây truyền HIV từ mẹ sang con”.2 Tổng quan tài liệu Từ khi phát hiện ra những trường hợp nhiễm HIV đầu tiên trên thế giới, các nhà khoa học quan tâm đã thực hiện nghiên cứu về HIV dưới nhiều giác độ và bằng nhiều cách thức khác nhau. Bao gồm những nghiên cứu về sinh bệnh học bên cạnh những nghiên cứu từ tâm lý học, xã hội học, kinh tế học… Trong các nguồn tài liệu nghiên cứu HIV/AIDS dưới góc độ xã hội có liên quan đến đề tài mà tác giả tiếp cận được tập trung vào hai chủ đề chính đó là những nghiên cứu về lây truyền HIV từ mẹ sang con và truyền thông phòng, chống HIV/AIDS.1 Những nghiên cứu liên quan đến lây truyền HIV từ mẹ sang con Công trình nghiên cứu của các tác giả Soeiro C.M và cộng sự (2011) và công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Liên Phương và cộng sự (2010) có tìm hiểu độ tuổi trung bình của phụ nữ nhiễm HIV, các tác giả cho rằng độ tuổi trung bình của phụ nữ mang thai nhiễm HIV còn rất trẻ trong độ tuổi từ 20 đến 30 tuổi.
Độ tuổi này còn rất trẻ, do đó họ chưa có ý thức được việc phòng, chống lây nhiễm HIV. Trong những nghiên cứu về phụ nữ mang thai và HIV mà tác giả tiếp cận được, các đề tài được thực hiện dưới nhiều khía cạnh khác nhau như: tìm hiểu thực trạng kiến thức, nhận thức, thái độ và hành vi phòng lây truyền và điều trị nhiễm HIV của phụ nữ trong thời kỳ mang thai. Trong đó, kiến thức, nhận thức, thái độ và hành vi phòng lây truyền là vấn đề được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm. Tác giả đã tổng quan được một số nghiên cứu có liên quan đến thực trạng kiến thức, nhận thức, thái độ và hành vi phòng lây truyền HIV/AIDS của phụ nữ mang thai.
Những nghiên cứu liên quan đến kiến thức HIV/AIDS của phụ nữ mang thai Trong một số công trình nghiên cứu nói rằng phụ nữ mang thai chưa có kiến thức tốt về HIV điển hình là tác giả Hawkins D và cộng sự tại Ghana (2005) và tác giả Omwega A. M và cộng sự tại Kenya (2006), các tác giả cho rằng kiến 5 thức dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con của phụ nữ không tốt, tỉ lệ hiểu biết của phụ nữ về vấn đề này còn thấp, từ đó họ từ chối xét nghiệm HIV vì nghĩ rằng bản thân không có nguy cơ và bệnh không điều trị khỏi. Trong các công trình nghiên cứu của Omwega A. M và cộng sự (2006); Ekabua J.
E và cộng sự (2006); Luo Y. và cộng sự (2008); Asefa A và cộng sự (2013) cho thấy nguyên nhân dẫn đến kiến thức về HIV/AIDS của phụ nữ mang thai chưa được tốt do họ chưa được cung cấp những kiến thức HIV/AIDS. Các tác giả cũng cho rằng cần tăng cường giáo dục sức khỏe về kiến thức dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con cho phụ nữ mang thai. Như vậy, kiến thức về HIV/AIDS của phụ nữ mang thai chưa tốt là do truyền thông HIV/AIDS đã không đến được với họ.
Tại Việt Nam, kết quả của một số nghiên cứu qua các năm cho thấy, một bộ phận phụ nữ mang thai vẫn chưa có kiến thức tốt trong việc dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con (Hồ Thị Ngọc, 2005; Trương Trọng Hoàng, 2009; Trương Tấn Minh, 2010). Trong nghiên cứu của Hồ Thị Ngọc (2005), tác giả đề cập đến thực trạng nhiễm HIV ở phụ nữ mang thai là do trình độ học vấn và vấn đề việc làm. Theo công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Duy Phong và cộng sự (2010), trình độ học vấn của phụ nữ mang thai nhiễm HIV chủ yếu từ trung học phổ thông trở xuống. Theo những nghiên cứu này thì những phụ nữ mang thai nhiễm HIV còn rất trẻ, học vấn thấp và nghề nghiệp không ổn định.
Chính những đặc điểm này làm hạn chế khả năng tiếp cận HIV/AIDS ở phụ nữ mang thai. Đây cũng là vấn đề mà luận văn sẽ cố gắng mô tả. Quan điểm của các tác giả Nguyễn Thị Liên Phương và cộng sự (2010); Nguyễn Viết Tiến và cộng sự (2010) cho thấy một số ít phụ nữ mang thai chưa thấy được tầm quan trọng của việc phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con, vì thế tiếp nhận ARV (đây là một loại thuốc được sử dụng cho người nhiễm HIV để làm hạn chế sự sinh sôi của HIV trong cơ thể) ở mức độ thấp khi họ được phát hiện nhiễm HIV. Những nghiên cứu tìm hiểu nhận thức của phụ nữ mang thai về HIV/AIDS 6 Trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thanh Tịnh và cộng sự (2009), tác giả cho thấy phụ nữ nhiễm HIV có kiến thức đúng trong việc phòng lây truyền mẹ con nhưng việc thực hành đúng các biện pháp phòng ngừa lây nhiễm HIV ở người nhiễm lại chưa cao, cần thiết phải thay đổi nhận thức của phụ nữ mang thai về HIV/AIDS.
Ở công trình nghiên cứu này tác giả chỉ đề cập vấn đề mà chưa đưa ra những lý giải rõ ràng vì sao lại có thực trạng như vậy. Theo tác giả Asefa và cộng sự (2013) cho thấy phụ nữ mang thai chưa nhận thức tốt về nguy cơ lây truyền HIV từ mẹ sang con trong thời gian mang thai, sinh đẻ và cho con bú.