CHƯƠNG 1 Nhiều năm qua, tuy có tác động rất lớn đến kinh tế Việt Nam nhưng cơ quan quản lý vẫn sử dụng công cụ trần lãi suất huy động. Chính điều này đã tạo nên một cuộc tranh luận sôi nổi về việc nên hay không nên tiếp tục duy trì biện pháp áp trần lãi suất tiền gửi. Dù vậy, các nghiên cứu về tác động của trần lãi suất huy động tại Việt Nam vẫn còn tương đối ít. Đây chính là nguyên nhân thúc đẩy tác giả thực hiện nghiên cứu về tác động của trần lãi suất huy động lên tính liên thông lãi suất tại nước ta thông qua đánh 6 giá về mức độ truyền dẫn và tốc độ điều chỉnh lãi suất.
Kết quả nghiên cứu sẽ đóng góp về mặt khoa học khi giới thiệu cụ thể khung lý thuyết về truyền dẫn lãi suất, đồng thời đóng góp về mặt thực tiễn với vai trò là một tài liệu tham khảo dành cho các nhà quản lý. Để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu đặt ra, tác giả vận dụng mô hình hiệu chỉnh sai số với dữ liệu là lãi suất huy động bình quân và lãi suất bình quân giao dịch trên thị trường liên ngân hàng được thu thập từ Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam trong giai đoạn từ tháng 09 năm 2012 đến tháng 03 năm 2020. Trong phần kế tiếp, tác giả sẽ làm rõ các lý thuyết về truyền dẫn lãi suất cùng với việc giới thiệu một số nghiên cứu tiêu biểu. CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương 2 giới thiệu các lý thuyết được sử dụng trong nghiên cứu, kết hợp với những kết quả nghiên cứu trước đây làm cơ sở đề xuất mô hình thực nghiệm.
Cụ thể, chương 2 được cấu trúc như sau: mục 2.1 giới thiệu một số khái niệm cơ bản được luận văn sử dụng, mục 2.2 thể hiện khái quát về trần lãi suất huy động; mục 2.3 giới thiệu lý thuyết về truyền dẫn lãi suất. Các nghiên cứu có liên quan được tóm tắt tại mục 2. Cuối cùng mục 2.5 sẽ tóm tắt lại toàn bộ chương 2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ LÃI SUẤT, THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ Tại mục 2.1, tác giả sẽ giới thiệu một số khái niệm cơ bản về lãi suất (mục 2.1) và thị trường tiền tệ (mục 2.2) được sử dụng trong luận văn.
Lý thuyết về lãi suất 2. Khái niệm Đến thời điểm hiện tại, có khá nhiều định nghĩa về lãi suất. Theo Karl-Marx, lãi suất chính là giá cả của tư bản cho vay. Samuelson cho rằng lãi suất là giá mà người vay phải trả người cho vay để có quyền sử dụng một khoản tiền trong một thời gian nhất định (Hoa & Dân, 2017).
Nói cách khác, lãi suất chính là giá mua bán quyền sử dụng tiền tệ trong một khoản thời gian cụ thể. Marshall định nghĩa lãi suất là giá phải trả cho việc sử dụng vốn tại một thị trường bất kỳ (Hoa & Dân, 2017). Như vậy, lãi suất là giá cả của quyền sử dụng vốn vay trong một khoản thời gian nhất định mà người sử dụng vốn phải trả cho người sở hữu vốn. Phân loại lãi suất Theo Hoa và Dân (2017), có nhiều cơ sở để phân loại lãi suất: dựa trên giá trị của tiền lãi, tính linh hoạt của lãi suất, phương pháp trả lãi,…Tuy nhiên, tác giả căn cứ vào nghiệp vụ ngân hàng để giới thiệu một số loại lãi suất được sử dụng trong luận văn như sau: Lãi suất tiền gửi: là lãi suất ngân hàng phải trả cho khách hàng ký thác tiền tệ tại ngân hàng, được sử dụng để tính toán số tiền lãi phải trả cho khách hàng gửi tiền.
Lãi suất tiền gửi được niêm yết nhiều mức khác nhau, tùy thuộc vào nhiều yếu tố như: số tiền gửi, kỳ hạn gửi, loại tiền tệ,… 8 Lãi suất liên ngân hàng: là lãi suất được sử dụng để vay vốn giữa các ngân hàng trên thị trường liên ngân hàng. Lãi suất này được hình thành trên cung cầu vốn tín dụng trên thị trường liên ngân hàng quyết định, đồng thời chịu sự chi phối mạnh mẽ bởi lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn của ngân hàng trung ương. Lý thuyết cơ bản về thị trường tiền tệ 2. Khái niệm Tương tự như lãi suất, thị trường tiền tệ cũng có nhiều khái niệm khác nhau: Theo Mishkin (2007), thị trường tiền tệ là thị trường tài chính giao dịch những công cụ nợ ngắn hạn.
Những công cụ nợ trung dài hạn và cổ phiếu sẽ được giao dịch trên thị trường vốn. Loretan và Wooldridge (2008) cho rằng thị trường tiền tệ thường được định nghĩa là nơi mua bán công cụ nợ ngắn hạn, cung cấp vốn cho các tổ chức, thực hiện một số chức năng kinh tế thiết yếu. Thị trường tiền tệ còn được định nghĩa là nơi cung cấp công cụ cho người vay và người cho vay để thoả mãn nhu cầu tài chính ngắn hạn của từng bên (Dodd, 2012). Tại Việt Nam, theo Khoản 6 và 7 Điều 6 Luật Ngân Hàng Nhà Nước thì “thị trường tiền tệ là nơi giao dịch ngắn hạn về vốn” và “Giao dịch ngắn hạn là giao dịch với kỳ hạn dưới 12 tháng các giấy tờ có giá”.
Từ những khái niệm trên cho thấy thị trường tiền tệ là một bộ phận của thị trường tài chính, là nơi đáp ứng những nhu cầu vốn ngắn hạn. Phân loại Tuỳ theo đối tượng, phạm vi nghiên cứu hay mục đích mà thị trường tiền tệ sẽ được phân loại khác nhau. Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả chia thị trường tiền tệ thành hai bộ phận tương tự như Đ. Hồng (2019): Thị trường tiền tệ mở rộng (thị trường 1): là nơi diễn ra các giao dịch giữa ngân hàng và các cá nhân, tổ chức.
9 Thị trường tiền tệ liên ngân hàng (thị trường giao dịch liên ngân hàng hay thị trường 2): là nơi diễn ra các giao dịch vay mượn, mua bán tiền tệ giữa các ngân hàng với nhau và giữa ngân hàng trung ương với các ngân hàng (Hình 2.1) Giám sát thị trường NHTW Kinh doanh OMO Môi giới TCTD TCTD Giao dịch nội tệ Giao dịch ngoại tệ Mua bán có kỳ hạn giấy tờ có giá Nguồn: Nga và Bắc (2013) Hình 2.1 Thị trường liên ngân hàng quốc gia 2. LÝ THUYẾT VỀ TRẦN LÃI SUẤT HUY ĐỘNG 2. Khái quát về áp chế tài chính Áp chế tài chính (financial repression) là những biện pháp được cơ quan quản lý ban hành nhằm khống chế lãi suất, ấn định tỷ lệ dữ trữ bắt buộc ở mức cao hay áp đặt trực tiếp việc phân bổ các nguồn lực tài chính vào các mục đích đầu tư của chính phủ (Johansson, 2012). Vào năm 19732, McKinnon là người đầu tiên đưa ra khái niệm, đồng thời chỉ rõ các tác động tiêu cực của những biện pháp nêu trên đến nền kinh tế như sau: Thứ nhất, lãi suất bị kiểm soát chặt chẽ thường đưa đến trạng thái lãi suất thực âm, tác động xấu đến sự phát triển lẫn độ sâu của thị trường tài chính.
Thứ hai, nhà nước khống chế lãi suất dưới mức cân bằng với kỳ vọng vốn đầu tư tăng do cá nhân, doanh nghiệp sẽ được sử dụng nguồn vốn có chi phí thấp. Nhưng trái 2 Ronald I. Money and capital in economic development. Brookings Institution Press.
1 ngược với kỳ vọng, thực tiễn cho thấy lượng vốn đầu tư sụt giảm, mức độ tiếp cận vốn suy giảm và vì thế các chủ thể thiếu vốn phải chịu lãi suất vay cao hơn hoặc chấp nhận sử dụng nguồn vốn tự có. Thứ ba, vì lãi suất thực âm nên các cá nhân, hộ gia đình sẽ chịu tác động tiêu cực của lạm phát thông qua tiêu dùng và tiết kiệm. Kết quả là, đầu tư của hộ gia đình chủ yếu hướng đến các tài sản ít chịu ảnh hưởng hoặc nằm ngoài phạm vi tác động tiêu cực bởi lạm phát (Ví dụ: ngoại tệ, vàng, bất động sản). Đến thời điểm hiện tại, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra sáu phương pháp được chính phủ sử dụng để thực hiện áp chế tài chính.
Hầu hết những biện pháp này liên quan đến mối quan hệ giữa chính phủ và ngân hàng: Kiểm soát lãi suất: ban hành quy định về trần lãi suất huy động hoặc (và) cho vay với mục đích khống chế lãi suất ở mức thấp hơn giá trị cân bằng thị trường. Yêu cầu các ngân hàng tuân thủ tỷ lệ dự trữ bắt buộc ở mức cao nhằm huy động vốn cho nhà nước từ ngành ngân hàng. Chỉ định phân bổ tín dụng. Sở hữu hoặc/và quản lý vi mô đối với các ngân hàng.
Hạn chế sự tham gia vào ngành tài chính. Hạn chế dòng vốn quốc tế vào và ra. Như vậy, trần lãi suất là một cách thức được cơ quan quản lý sử dụng để áp chế tài chính. Tác giả sẽ thảo luận chi tiết về trần lãi suất tiền gửi và các tác động của quy định này trong phần kế tiếp.
Trần lãi suất huy động và những tác động Trần lãi suất là một quy định nhằm ngăn cản các tổ chức tín dụng đưa ra một mức lãi suất cao hơn mức đã được ấn định trước. Tại các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, những biện pháp kiểm soát lãi suất, đặc biệt là áp đặt trần lãi suất được xem là một trong những công cụ được sử dụng phổ biến nhất. Tuy vẫn có một số lý do ủng hộ việc áp dụng trần lãi suất nhằm khắc phục các khuyết tật của thị trường nhưng nhìn chung cả lý thuyết lẫn thực tiễn đều khẳng định trần lãi suất tạo nên những tác động tiêu cực đối với nền kinh tế nói chung, tiết kiệm và đầu tư nói riêng. Luận văn trình bày tác 1 động của trần lãi suất huy động đến tăng trưởng kinh tế nói chung (Mục 2.1) và đến các chủ thể tham gia thị trường tài chính nói riêng (Mục 2.
Tác động đến tăng trưởng kinh tế Về mặt lý thuyết, dường như kiểm soát lãi suất được áp đặt với mục đích chính là khuyến khích đầu tư. Nếu lãi suất vay vốn thấp, số lượng dự án đầu tư có hiện giá dòng tiền ròng dương khi sử dụng lãi suất vay làm lãi suất chiết khấu sẽ tăng lên, góp phần tăng tỷ lệ đầu tư. Đây chính là tác động trực tiếp của trần lãi suất tiền vay. Ngược lại, trần lãi suất tiền gửi được cho rằng sẽ tạo ra tác động gián tiếp: các ngân hàng huy động vốn với lãi suất thấp sẽ cung cấp các khoản vay với lãi suất thấp 3.
Lập luận nêu trên dựa trên một giả định quan trọng: dù tồn tại trần lãi suất tiền gửi trực tiếp hay gián tiếp thì nhu cầu đầu tư vẫn được đáp ứng đủ từ những người gửi tiết kiệm.