CHƯƠNG 1 Tiếp cận góc độ lý thuyết, chương này đã chỉ ra tính tất yếu của nghiệp vụ cho vay cũng như việc tăng trưởng cho vay và rủi ro tín dụng trong nghiệp vụ cho vay của NHTM; căn cứ lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm và bằng chứng thực tiễn về tăng trưởng cho vay ảnh hưởng đến lợi nhận của các NHTM và rủi ro tín dụng ảnh hưởng đến lợi nhuận của các NHTM tại Việt Nam, đề tài đã khẳng định ý nghĩa khoa học và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu. Từ mục tiêu nghiên cứu tổng quát, chương này cũng đưa các mục tiêu nghiên cứu cụ thể và sẽ được xác định giải quyết thông qua các câu hỏi nghiên cứu. Bên cạnh đó, đề tài cũng đã chỉ ra đối tượng nghiên cứu và giới hạn phạm vi nghiên cứu về nội dung, thời gian và không gian. Cuối cùng, chương này đã cung cấp thông tin khái quát cấu trúc đề tài bao gồm 5 chương nội dung chính.
9 Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT, NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM CÓ LIÊN QUAN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Lợi nhuận của ngân hàng thương mại 2. Khái niệm Mục tiêu lợi nhuận hay khả năng sinh lời (Profitability) là thước đo hiệu quả tài chính trong từng kỳ hoạt động của các doanh nghiệp nói chung và NHTM nói riêng, là điều kiện cần nhưng chưa đủ để duy trì cân bằng tài chính. Việc đánh giá khả năng lời phải dựa trên một khoảng thời gian tham chiếu.
Khái niệm khả năng sinh lời được áp dụng trong mọi hoạt động kinh tế sử dụng các phương tiện vật chất, con người và tài chính thể hiện bằng kết quả trên phương tiện. khả năng sinh lời có thể áp dụng trên một tài sản hoặc một tập hợp tài sản. Ở cấp độ doanh nghiệp, khả năng sinh lời là kết quả của việc sử dụng tập hợp các tài sản vật chất và tài sản tài chính, tức là vốn kinh tế mà doanh nghiệp nắm giữ. Nhìn chung khả năng sinh lời cần ít nhất đủ để đáp ứng hai đòi hỏi cấp bách: - Đảm bảo duy trì vốn cho doanh nghiệp (đầu tư) - Trả được các khoản lãi vay và đảm bảo hoàn trả khoản vay Ngân hàng thương mại cũng là một đơn vị kinh doanh, chỉ khác ở chỗ NHTM kinh doanh tiền tệ.
Từ định nghĩa khả năng sinh lời của doanh nghiệp, ta có thể hiểu khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại là thước đo hiệu quả bằng tiền, là kết quả của việc sử dụng tài sản có nhằm tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng. Khả năng sinh lời của ngân hàng cũng cần phải đáp ứng ít nhất hai đòi hỏi: Đảm bảo duy trì vốn và nhu cầu thanh toán (cấp tín dụng và trả lãi tiền gửi,. ) 1 Lãi thu được từ các hoạt động sinh lời trong năm tài khoá có thể được trích chia cổ đông hoặc vẫn duy trì dưới dạng vốn dự trữ. Nếu không tính tới thuế và lãi, khả năng sinh lời của tài sản phải cho phép tích luỹ đủ tiền để đảm bảo vốn kinh doanh, đảm bảo hoàn trả nợ, đóng góp vào việc tăng vốn và trả lợi nhuận đầu tư vốn cho các cổ đông.
Mọi quyết định và thay đổi việc nắm giữ tài sản không chỉ làm nảy sinh vấn đề tài chính mà còn làm nảy sinh cả vấn đề sinh lời. Nếu khả năng sinh lời không đủ lớn lớn, ngân hàng sẽ không đủ phương tiện để đáp ứng nhu cầu của nhiều yếu tố kinh doanh khác nhau. Thặng dư khi đó sẽ không đủ để duy trì cân bằng tài chính. Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh khả năng sinh lời cũng như để đánh giá sự phát triển bền vững của một ngân hàng.
Việc tối đa hoá khả năng sinh lời là mục tiêu vô cùng quan trọng mà bất cứ ngân hàng nào cũng nhắm tới. Trong môi trường cạnh tranh quốc tế, tăng cường hiệu quả kinh doanh, nâng cao khả năng sinh lời của mỗi ngân hàng là cách tốt nhất để giúp cho hệ thống ngân hàng phát triển một cách bền vững. Tuy nhiên, với mục tiêu đảm bảo an toàn cho hoạt động ngân hàng thì khi đánh giá kết quả kinh doanh hay lợi nhuận của ngân hàng cần có một quan điểm toàn diện. Một ngân hàng có mức lợi nhuận cao chưa hẳn là tốt, để có mức lợi nhuận như vậy có thể ngân hàng này đã chấp nhận một cơ cấu tài sản có rủi ro cao.
Khi xét đến chỉ tiêu lợi nhuận, cần phân tích lợi nhuận trong mối quan hệ với các chỉ tiêu quản lý khác, chẳng hạn như mức độ thanh khoản, mức chấp nhận rủi ro, cơ cấu tài sản cũng như triển vọng phát triển lâu dài của ngân hàng. Trong phân tích đánh giá khả năng sinh lời của ngân hàng, có thể đo lường bằng nhiều chỉ tiêu khác nhau nhưng dù đo lường cách nào thì vẫn chủ yếu là xem xét mức lợi nhuận của ngân hàng sau một thời kỳ hoạt động trong các mối quan hệ với nguồn vốn, tài sản, khả năng bù đắp chi phí và những thất thoát xảy ra cũng như khả năng bảo toàn và phát triển vốn. Chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lợi của ngân hàng thương mại Các chỉ số đo lường khả năng sinh lợi của ngân hàng bao gồm: 1 Suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) Suất sinh lời trên tổng tài sản = Lợi nhuận sau thuế Tổng tài sản bình quân ROA (Return on assets) là tỷ số lợi nhuận trên tổng tài sản, hệ số này phản ảnh hiệu quả của việc sử dụng tài sản để kiếm lời. Đây là chỉ số thể hiện mối tương quan giữa mức sinh lợi của một ngân hàng so với chính tài sản của nó.
Qua đó nhà đầu tư có thể thấy được ngân hàng thu được bao nhiêu tiền lãi trên một đồng tài sản. Chỉ số ROA càng cao thì càng tốt. Nếu như chỉ số này thấp có khả năng ngân hàng đầu tư, cho vay chưa hợp lý hoặc chi phí vận hành quá cao. ROA phản ảnh tỷ suất lợi nhuận của ngân hàng.
Đây là thước đo khả năng sinh lợi thông qua tổng tài sản đầu tư. Suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE): Lợi nhuận sau thuế Suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu bình quân = ROE (Return on Equity) là tỷ số lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu, các nhà đầu tư thường quan tâm đến chỉ số này, tỷ số này thước đo để đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng vốn cổ đông thường. ROE càng cao càng hấp dẫn các nhà đầu tư. Tỷ lệ thu nhập lãi ròng cận biên (NIM) Thu nhập từ lãi – Chi phí trả lãi Tỷ lệ thu nhập lãi ròng cận biên Tổng tài sản có sinh lời bình quân = NIM (Net Interrest Margin) là hệ số dùng để xác định chênh lệch giữa thu nhập lãi và chi phí phải trả lãi suất cho các khách hàng gửi tiền.
Tỷ số này cho biết ngân hàng hưởng chênh lệch giữa lãi suất huy động vốn và lãi suất tín dụng là bao nhiêu? Đây là thước đo năng lực của các nhà điều hành cũng như nhân viên của ngân hàng, phản ảnh khả năng phân bố tài sản vào tài sản có khả năng sinh lợi tốt nhất. 1 Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên (NOM) Thu nhập ngoài lãi – Chi phí ngoài lãi Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên = Tổng tài sản có sinh lời bình quân NOM ( Net non Interest Margin) đây là hệ số đo lường sự chênh lệch giữa thu nhập ngoài lãi và các chi phí ngoài lãi. Thu nhập ngoài lãi của ngân hàng gồm: Phí thu dịch vụ, lãi từ đầu tư, kinh doanh. Hệ số lợi nhuận trên cổ phiếu (EPS) Lợi nhuận sau thuế Hệ số lợi nhuận trên cổ phiếu Tổng số cổ phiếu thường bình quân = đang lưu hành EPS (Earning per share) là lợi nhuận tính trên mỗi cổ phiếu, đo lường thu nhập trực tiếp của cổ đông trên một cổ phiếu hiện hành.
Theo như các lý thuyết đã nêu thì có rất nhiều chỉ tiêu đo lường, phân tích khả năng sinh lợi của NHTM, và trong giới hạn đề tài chỉ lựa chọn các chỉ tiêu ROE để đo lường khả năng sinh lời của NHTM, đó là khả năng NHTM tạo ra lợi nhuận dành cho chủ sở hữu và cũng thể hiện khả năng thực hiện mục tiêu lợi nhuận của NHTM dưới góc độ tài chính.2 Tác động của tăng trưởng cho vay đến lợi nhuận của các ngân hàng 2. Khái niệm tăng trưởng cho vay Theo nghiên cứu của Lane P. (2014) cho rằng tăng trưởng cho vay như là một sự gia tăng giá trị dư nợ cho vay trong khu vụ tư nhân bao gồm cả đối tượng là các cá nhân và các tổ chức. Một khi quy mô tín dụng gia tăng, khách hàng có thể vay mượn được nhiều hơn để sử dụng cho các mục đích chi tiêu, đầu tư và kinh doanh.
Theo Nguyễn Minh Kiều (2007), cấp tín dụng của NHTM dành cho khách hàng là một trong những nghiệp vụ sử dụng vốn, theo đó NHTM đóng vai trò là 1 người cấp tín dụng và khách hàng là người nhận khoản tín dụng để sử dụng cho các mục đích khác nhau. Cấp tín dụng là một trong những nghiệp vụ cơ bản và chủ yếu trong các nghiệp vụ tài sản có sinh lời của NHTM, do đó tăng trưởng cho vay đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu gia tăng thu nhập, đảm bảo mục tiêu lợi nhuận và tiến đến gia tăng giá trị NHTM cũng như gia tăng giá trị tài sản cho chủ sở hữu của NHTM. Theo Nguyễn Văn Tiến (2013), TTTD là việc các NHTM sử dụng các chính sách nhằm gia tăng nguồn vốn huy động, đáp ứng cho việc cấp tín dụng, chiết khấu, đầu tư vào những đối tượng là các tổ chức kinh tế, cá nhân,… có nhu cầu vay vốn, từng bước nâng cao lợi nhuận, thị phần và thương hiệu trên thị trường. Như vậy, tăng trưởng cho vay được hiểu là sự tăng thêm về giá trị của khoản cấp tín dụng của NHTM dành cho khách hàng trong một khoảng thời gian nhất định, có thể theo tháng, quý hoặc năm,… 2.