CHƯƠNG 1 Trong chương này, tác giả đã trình bày cho người đọc có được các nhìn tổng quát về các vấn đề nghiên cứu cũng như đưa ra những vấn đề cơ bản nhất của nghiên cứu như lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa và hạn chế của việc nghiên cứu. Bên cạnh đó, khóa luận cho đưa ra các phương pháp sơ lược cũng như cách thiết kế bố cục Khóa luận, từ đó làm cơ sở cho việc tiếp tục nghiên cứu các chương tiếp theo. 16 CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGIÊN CỨU Trong chương này, tác giả sẽ giới thiệu về lợi nhuận của NHTM và các chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lời của NHTM. Đồng thời, chương này cũng trình bày các dẫn chứng là các nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố tác động đến lợi nhuận của NHTM.
Tổng quan về lợi nhuận của ngân hàng thương mại 2.1 Khái niệm lợi nhuận Ngày nay, lợi nhuận được hiểu theo nhiều định nghĩa khác nhau. Theo Phạm Thị Hương (2015), lợi nhuận được xem là khoản thu nhập thuần túy của doanh nghiệp sau khi đã khấu trừ mọi chi phí. Nói cách khác, lợi nhuận được xem là khoản tiền chênh lệch giữa doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trừ đi các giảm trừ, giá vốn hàng bán, chi phí hoạt động và thuế. Nếu kết quả chênh lệch âm là doanh nghiệp đó bị lỗ.
Đây là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá kết quả kinh doanh. Theo B Roberts (1998) lợi nhuận được xem là lợi ích tài chính có được khi doanh thu được tạo ra từ hoạt động kinh doanh lớn hơn chi phí và thuế được dùng cho việc duy trì hoạt động của cá nhân hay doanh nghiệp được đề cập. Lợi nhuận được đo lường bằng cách lấy doanh thu trừ chi phí. Qua các định nghĩa vừa nêu trên, có thể hiểu lợi nhuận là khoản thu nhập còn lại mà doanh nghiệp hay cá nhân có được sau khi lấy toàn bộ doanh thu thuần trừ đi chi phí trong quá trình kinh doanh và hoạt động.
Lợi nhuận dương chứng tỏ doanh nghiệp hay cá nhân có lời trong việc kinh doanh và đầu tư.2 Lợi nhuận của ngân hàng thương mại Lợi nhuận của NHTM xét theo nghĩa hẹp đó chính là chỉ tiêu tài chính để đánh giá hiệu 17 quả hoạt động kinh doanh của NHTM. Gia tăng lợi nhuận không những giúp ngân hàng mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh, mà còn để gia tăng thu nhập cho các cổ đông, nâng cao phúc lợi và khen thưởng cho người lao động, ổn định nhân sự, ổn định tổ chức và nâng cao thương hiệu uy tín của ngân hàng (Nguyễn Đăng Dờn, 2012). Theo Nguyễn Thị Ngọc Tú (2013): “Lợi nhuận của ngân hàng thương mại là khoản chênh lệch được xác định giữa tổng doanh thu phải thu trừ đi tổng các khoản chi tiêu phải trả lợi lý hợp lệ. Một trong những mục tiêu quan trọng mà các NHTM hướng tới là tối đa hóa lợi nhuận.
Lợi nhuận NHTM là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả kinh doanh của NHTM, là nguồn tích lũy quan trọng, bổ sung vốn chủ sở hữu để thực hiện việc mở rộng hoạt kinh doanh”. Theo Nguyễn Thanh Phong (2015): “Lợi nhuận NHTM là khoản chênh lệch được xác định giữa thu nhập và chi phí lợi tức cho vay và lợi tức nhận tiền gửi sau khi trừ đi những chi phí về nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng cộng với thu nhập từ nghiệp vụ ngân hàng khác”. Ý nghĩa về lợi nhuận NHTM rất đặt biệt, lợi nhuận không chỉ phản ánh hiệu quả hoạt động của từng NHTM riêng lẻ, mà hiệu quả hoạt động của cả hệ thống NHTM trong nền kinh tế. Hoạt động của NHTM, không chỉ mang lại lợi nhuận cho nhân viên và các cổ đông của ngân hàng, rộng hơn nữa nó còn phải mang lợi ích cho khách hàng, cho nền kinh tế quốc gia (Nguyễn Đăng Dờn,2012).3 Các chỉ tiêu xác định lợi nhuận 2.1 Các chỉ tiêu xác định lợi nhuận tuyệt đối • Lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT) Tổng lợi nhuận trước thuế và lãi vay ( Earnings Before Interest and Taxes – EBIT) bao gồm lợi nhuận hoạt động kinh doanh chính, lợi nhuận hoạt động tài chính trước lãi vay ( không tính chi phí lãi vay) và lợi nhuận khác.
Tổng lợi nhuận trước thuế và lãi vay phản ánh toàn bộ kết quả hoạt động của ngân hàng 18 trong một thời kỳ và có thể sử dụng để đánh giá hiệu quả trong việc sử dụng tài sản để tạo ra lợi nhuận chung cho nền kinh tế. EBIT cao sẽ đảm bảo khả năng trả lãi vay tốt, khả năng đóng góp của ngân hàng vào nguồn thu ngân sách cao, khả năng mang lại lợi nhuận cho chủ sở hữu lớn ( Ngô Kim Phượng, 2018, trang 92) • Tổng lợi nhuận trước thuế (EBT) Tổng lợi nhuận trước thuế ( Earnings Before Taxes – EBT) phản ánh toàn bộ kết quả hoạt động của ngân hàng trong kỳ chưa trừ chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp. Tổng lợi nhuận trước thuế khác với tổng lợi nhuận trước thuế và lãi vay do tác động của chi phí lãi vay. Chi phi lãi vay càng lớn sẽ làm cho EBT càng nhỏ hơn so với EBIT.
Do chi phí lãi vay là chi phí sử dụng vốn duy nhất được tính vào chi phí để xác định lợi nhuận, vì vậy khi ngân hàng sử dụng nợ vay càng nhiều thì chi phí lãi vay càng lớn nhưng điều này không có nghĩa là ngân hàng đã không tiết kiệm chi phí sử dụng và làm giảm hiệu quả hoạt động kinh doanh cũng như làm giảm hiệu quả sử dụng vốn ( Ngô Kim Phượng, 2018, trang 93). • Lợi nhuận sau thuế (EAT) Lợi nhuận sau thuế (Earnings Afer Taxes – EAT) là phần chênh lệch giữa tổng lợi nhuận trước thuế với chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp, đây là lợi nhuận cuối cùng thuộc về chủ sở hữu. EAT khác với EBT bởi chi phí thuế TNDN, vì vậy EAT chịu tác động bởi chính sách thuế TNDN của Chính phủ trong từng thời kỳ (Ngô Kim Phượng, 2018, trang 94). 19 EAT là chỉ tiêu đo lường kết quả kinh doanh của toàn ngân hàng đã tính đến ảnh hưởng của cơ cấu vốn và chính sách thuế TNDN, cho biết tổng giá trị lợi nhuận mà doanh nghiệp tạo ra được dành cho chủ sở hữu.
Như vậy, phân tích EAT không chỉ thấy rõ khả năng đóng góp vào kết quả kinh doanh chung của lợi nhuận hoạt động kinh doanh chính, lợi nhuận hoạt động tài chính trước lãi vay và lợi nhuận khác, mà còn biết được ảnh hưởng của chi phí lãi vay phát sinh từ quyết định tài trời và chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp từ những quy định trong chính sách của Chính phủ (Ngô Kim Phượng, 2018, trang 99).2 Các chỉ tiêu xác định tỷ suất lợi nhuận Do lợi nhuận tuyết đối của các doanh nghiệp phụ thuộc vào quy mô, hiệu quả của NHTM, do vây thông thường để đánh giá lợi nhuận của NHTM người ta thường sử dụng các chỉ tiêu tương đối để xem xét • Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản đo lường hiệu quả hoạt động của một ngân hàng trong việc sử dụng tài sản (bao gồm các khoản cho vay và đầu tư) để tạo ra lợi nhuận sau thuế. ROA cho biết được lợi nhuận ròng của ngân hàng từ một đồng đầu tư và tổng tài sản (The Bussiness of Banking,2010). Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản được tính bằng công thức: Lợi nhuận sau thuế ROA= Tổng tài sản bình quân ROA là suất sinh lời trên tài sản của ngân hàng sau thuế, do đó ROA chịu ảnh hưởng bởi chính sách thuế thu nhập ngân hàng. ROA không chịu ảnh hưởng của cơ cấu vốn.
Chỉ số ROA phản ánh hiệu quả hoạt động của ngân hàng, là cơ sở quan trọng để những người đi vay hoặc cho vay cân nhắc liệu xem ngân hàng có tạo ra mức sinh lời cao hơn chi phí sử dụng nợ không. Bên cạnh đó, ROA cũng là cơ sở để chủ sở hữu 20 đánh giá tác động của đòn bẩy tài chính và ra quyết định huy động vốn. Số chênh lệch giữa ROA và chi phí sủ dụng nợ vay sau thuế (lãi suất vay sau khi đã khấu trừ thuế) dương thể hiện ngân hàng sử dụng nợ vay có hiệu quả vì nợ vay có khả năng làm gia tăng lợi nhuận sau thuế cho chủ sở hữu ( Ngô Kim Phượng, 2018). • Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu(ROE) Theo Banking Bussiness (2010) nhận định rằng tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu là hiệu quả hoạt động của ngân hàng khi sử dụng nguồn vốn của họ (bao gồm cả nguồn vốn của chủ sở hữu) và được xác định bằng công thức: Lợi nhuận sau thuế ROE Vốn chủsởhữu Ngô Kim Phượng (2018) chỉ ra rằng ROE là chỉ tiêu phản ánh một đồng vốn đầu từ của vốn chủ sở hữu vào ngân hàng đem lại cho chủ sở hữu bao nhiêu đồng lợi nhuận sau khi trừ thuế thu nhập doanh nghiệp.
ROE có liên quan đến chi phí lãi vay, liên quan đến chi phí thu nhập doanh nghiệp, vì vậy nó là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả sử dụng vốn của của chủ sở hữu dưới tác động của đòn bẩy tài chính. • Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên là sự chênh lệch phần trăm giữa thu nhập lãi và chi phí lãi phải trả của ngân hàng, cho biết được ngân hàng đang thực sự hưởng mức chêch lệch lãi suất giữa hoạt động huy động và hoạt động đầu tư tín dụng là bao nhiêu (Gul & Zaman, 2011). Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên được xác định bằng công thức: ThunhậV lãi NIM = Tổ à1 sản Chỉ số NIM là một trong những thước đo đặc trưng của lợi nhuận ngân hàng. Ngân hàng phát sinh thêm một số hoạt động kinh doanh khác như kinh doanh chứng 21 khoán, công cụ phát sinh, dịch vụ bảo lãnh, giao dịch ngoại hối,… để gia tăng khả năng sinh lời của ngân hàng.
Tuy nhiên hoạt động nhận tiền gửi và cho vay vẫn chiếm phần lớn trong doanh thu của các ngân hàng, được thể hiện rõ qua NIM (Naceur & Goaied, 2001). Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố tác động đến lợi nh 2.1 Các nghiên cứu nước ngoài Bài nghiên cứu của Yuqi (2007) tìm hiểu các yếu tố nội tại và bên ngoài ngân hàng tác động đến lợi nhuận của NHTM sử dụng biến phụ thuộc là ROA. Nghiên cứu khảo sát 123 ngân hàng tại Mỹ và 378 quan sát trong gian đoạn 1999-2006.