Tổng quan nghiên cứu

Năm 2012, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tỷ lệ nợ xấu qua hệ thống giám sát từ xa đạt mức 8,6%, trong khi số liệu thống kê báo cáo định kỳ chỉ ghi nhận 4,47%. Tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế Fitch Ratings cùng thời điểm nhận định nợ xấu thực tế tại Việt Nam cao hơn gấp 3 đến 4 lần con số chính thức. Tiếp đó, tổ chức Moody's đã hạ bậc tín nhiệm đối với 8 ngân hàng thương mại lớn tại Việt Nam do lo ngại về tính minh bạch thông tin tài chính. Vấn đề cốt lõi bắt nguồn từ khoảng cách lớn giữa Chuẩn mực Kế toán Việt Nam (VAS) và Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS/IAS), dẫn đến sự sai lệch nghiêm trọng trong kết quả đánh giá sức khỏe tài chính ngân hàng.

Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định tác động của sự khác biệt khuôn khổ kế toán tới tính chính xác của kết quả đánh giá hệ thống ngân hàng thương mại theo khung CAMELS và Quyết định 06/2008/QĐ-NHNN. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2011-2015, đi sâu phân tích các đơn vị đại diện cho những mắt xích trọng yếu của thị trường tài chính. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp bằng chứng thực nghiệm giúp các cơ quan quản lý nâng cao chất lượng giám sát an toàn vi mô, tái cấu trúc hệ thống tín dụng theo Quyết định 254/QĐ-TTg và chuẩn hóa các chỉ số tài chính chủ chốt như hệ số an toàn vốn (CAR) đạt chuẩn tối thiểu 8% đến 9%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng hệ thống đánh giá an toàn vi mô CAMELS chuẩn quốc tế bao gồm 6 trụ cột cốt lõi: Vốn tự có (Capital), Chất lượng tài sản (Asset quality), Năng lực quản trị (Management), Khả năng sinh lời (Earnings), Tính thanh khoản (Liquidity) và Độ nhạy cảm với rủi ro thị trường (Sensitivity). Đồng thời, đề tài đối chiếu với khung xếp loại theo Quyết định 06/2008/QĐ-NHNN với thang điểm 100 gồm 5 tiêu chí định lượng và định tính.

Bên cạnh đó, nghiên cứu dựa trên lý thuyết bất cân xứng thông tin (Information Asymmetry) và chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 39/IFRS 9 về ghi nhận, đo lường công cụ tài chính theo nguyên tắc giá trị hợp lý (Fair Value) và mô hình tổn thất đã phát sinh. Hệ thống 26 chuẩn mực VAS hiện hành của Việt Nam mới chỉ đáp ứng khoảng 50% thông lệ kế toán quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng, với mức độ hội tụ chung đạt khoảng 66% so với chuẩn mực quốc tế.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu tình huống (Case study) kết hợp phân tích so sánh định tính và định lượng. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 3 ngân hàng thương mại quy mô lớn, được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling). Mỗi ngân hàng đại diện cho một vấn đề chính sách trọng yếu: ngân hàng thương mại cổ phần yếu kém thuộc diện bắt buộc tái cấu trúc, ngân hàng thương mại nhà nước chiếm thị phần chi phối hưởng cơ chế ưu đãi dự phòng, và ngân hàng thương mại cổ phần quy mô lớn thuộc nhóm G12 áp dụng nghiệp vụ bán nợ cho VAMC.

Lý do lựa chọn phương pháp nghiên cứu tình huống chuyên sâu là nhằm bóc tách chi tiết từng dòng dữ liệu hạch toán, danh mục tín dụng và trích lập dự phòng cụ thể, khắc phục triệt để rào cản bảo mật và thiếu hụt dữ liệu IFRS diện rộng trên toàn hệ thống. Nguồn dữ liệu sử dụng là các bộ báo cáo tài chính đã kiểm toán song song theo VAS và IFRS giai đoạn 2011-2014, kết hợp dữ liệu giám sát và văn bản điều hành của Ngân hàng Nhà nước trong cùng giai đoạn.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tại ngân hàng thương mại cổ phần tái cấu trúc, sự can thiệp bằng văn bản cho phép khoanh nợ đối với các tập đoàn nhà nước làm tỷ lệ nợ xấu báo cáo theo VAS chỉ ở mức 4,42%. Tuy nhiên, khi điều chỉnh đúng thực tế, tỷ lệ nợ xấu theo VAS là 16,73% và theo chuẩn IFRS lên tới 26,53%. Chi phí dự phòng theo IFRS tăng thêm gần 2.700 tỷ đồng, làm lợi nhuận đảo chiều từ có lãi sang lỗ hơn 2.900 tỷ đồng, kéo điểm xếp loại CAMELS tụt từ Hạng B (71 điểm) xuống Hạng D (21 điểm).

Thứ hai, tại ngân hàng thương mại có vốn nhà nước, chính sách ưu đãi giãn trích lập dự phòng khiến quỹ dự phòng theo VAS thấp hơn 15.043 tỷ đồng so với chuẩn IFRS. Tỷ lệ nợ xấu theo VAS chỉ ghi nhận 5,7% trong khi con số thực tế theo IFRS lên đến 20,4%. Báo cáo VAS ghi nhận có lãi nhưng theo IFRS phát sinh mức lỗ hơn 11.000 tỷ đồng, nâng mức chênh lệch lỗ lũy kế vượt 13.000 tỷ đồng. Điểm số CAMELS theo IFRS chỉ đạt 27 điểm so với 52 điểm của VAS.

Thứ ba, tại ngân hàng thương mại cổ phần nhóm dẫn đầu, việc bán nợ xấu lấy trái phiếu đặc biệt VAMC với giá trị 636.695 triệu đồng năm 2013 và trên 3.000 tỷ đồng năm 2014 giúp tỷ lệ nợ xấu VAS duy trì dưới 3%. Tuy nhiên, theo bản chất IFRS, toàn bộ rủi ro tín dụng vẫn thuộc về ngân hàng thương mại do nghĩa vụ trích lập dự phòng 20% mỗi năm theo Thông tư 19/2013/TT-NHNN.

Thảo luận kết quả

Sự sai lệch giữa kết quả đánh giá theo hai hệ thống bắt nguồn từ việc VAS ghi nhận theo giá gốc và phân loại nợ theo số ngày quá hạn hình thức, trong khi IFRS đo lường dựa trên giá trị hiện tại của dòng tiền chiết khấu (PV) cùng các biến số rủi ro PD, LGD và EAD. Kết quả này củng cố mạnh mẽ kết luận của các nghiên cứu quốc tế của Barth và cộng sự (2007, 2012) về tính vượt trội của IFRS trong việc phản ánh chất lượng tài sản và hạn chế hành vi thao túng lợi nhuận.

Dữ liệu nghiên cứu khi được mô hình hóa qua bảng ma trận đối chiếu 5 nhóm tiêu chí CAMELS và biểu đồ phân tầng tỷ lệ nợ xấu đã chỉ ra rằng việc sử dụng số liệu VAS che giấu sự sụt giảm nghiêm trọng của hệ số an toàn vốn CAR xuống dưới ngưỡng quy định 9%. Điều này làm vô hiệu hóa chức năng cảnh báo sớm của cơ quan giám sát và tạo ra bức tranh tài chính thiếu lành mạnh trên thị trường tiền tệ.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, ban hành lộ trình bắt buộc lập báo cáo tài chính song song: Ngân hàng Nhà nước cần yêu cầu 100% ngân hàng thương mại công bố báo cáo tài chính kiểm toán theo chuẩn IFRS song song với VAS từ năm 2018, hoàn tất áp dụng toàn diện trước năm 2020 gắn liền với tiến trình triển khai Hiệp ước Basel II theo Đề án cơ cấu lại hệ thống tổ chức tín dụng ban hành kèm Quyết định 254/QĐ-TTg.

Thứ hai, chấm dứt các văn bản can thiệp hành chính vào phân loại nợ: Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước cần loại bỏ hoàn toàn các văn bản chỉ đạo mang tính ưu đãi khoanh nợ, giữ nguyên nhóm nợ cho khối doanh nghiệp nhà nước trước quý 4 năm 2017 nhằm đảm bảo phản ánh đúng 100% mức độ tổn thất tín dụng thực tế.

Thứ ba, minh bạch hóa cơ chế xử lý nợ xấu qua VAMC: Ngân hàng Nhà nước cần quy định các ngân hàng thương mại phải công bố công khai tỷ lệ nợ xấu gộp bao gồm cả dư nợ đã bán nhận trái phiếu đặc biệt VAMC, thực hiện trích lập dự phòng nghiêm ngặt 20% mệnh giá hàng năm, hướng tới mục tiêu kiểm soát tỷ lệ nợ xấu thực chất dưới 3% toàn hệ thống.

Thứ tư, hoàn thiện khung xếp loại tổ chức tín dụng tiệm cận CAMELS quốc tế: Ngân hàng Nhà nước cần sửa đổi Quyết định 06/2008/QĐ-NHNN trước năm 2018, bổ sung chỉ tiêu đo lường độ nhạy cảm rủi ro thị trường và chuyển đổi phương pháp chấm điểm dựa trên phân tích rủi ro tương lai thay vì chỉ dựa vào dữ liệu kế toán lịch sử.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cơ quan quản lý nhà nước và thanh tra giám sát ngân hàng: Sử dụng luận văn làm cơ sở thực tiễn để hoàn thiện khung pháp lý giám sát an toàn vi mô cho hơn 30 ngân hàng thương mại, đồng thời thiết lập các tiêu chuẩn thanh tra tại chỗ tiệm cận thông lệ quốc tế.

Thứ tư, Hội đồng quản trị và Ban điều hành các tổ chức tín dụng: Ứng dụng kết quả nghiên cứu để chủ động nâng cấp hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ (ICSS), chuẩn bị nguồn lực công nghệ và nhân sự chuyển đổi hệ thống kế toán sang IFRS nhằm tối ưu hóa chi phí vốn.

Thứ ba, các nhà đầu tư tổ chức, quỹ đầu tư và cơ quan xếp hạng tín nhiệm: Vận dụng phương pháp bóc tách dữ liệu của luận văn để đánh giá chính xác giá trị thực tế, chất lượng tài sản và mức độ rủi ro tiềm ẩn khi ra quyết định đầu tư vốn quy mô hàng triệu USD vào cổ phiếu ngân hàng.

Thứ tư, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Tham khảo khung phân tích mẫu mực kết hợp giữa chính sách công, kế toán quốc tế và quản trị rủi ro ngân hàng phục vụ các công trình nghiên cứu học thuật chuyên sâu.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao tỷ lệ nợ xấu theo chuẩn IFRS luôn cao hơn so với báo cáo theo VAS? Chuẩn mực IFRS áp dụng nguyên tắc bản chất quan trọng hơn hình thức, đánh giá rủi ro dựa trên giá trị dòng tiền chiết khấu tương lai và kiểm tra giảm giá trị theo từng nhóm danh mục. Ngược lại, VAS chủ yếu phân loại nợ dựa trên số ngày quá hạn hình thức, khiến nhiều khoản nợ tiềm ẩn rủi ro chưa được ghi nhận kịp thời vào nhóm nợ xấu.

Nghiệp vụ bán nợ lấy trái phiếu đặc biệt VAMC có giúp triệt tiêu rủi ro tín dụng của ngân hàng không? Không. Về bản chất kinh tế theo chuẩn IFRS, ngân hàng chưa chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích của khoản vay. Ngân hàng vẫn chịu trách nhiệm thu hồi nợ, phải trích lập dự phòng 20% mỗi năm cho trái phiếu đặc biệt và phải nhận lại toàn bộ khoản nợ xấu sau 5 năm nếu VAMC không xử lý được.

Khung xếp loại ngân hàng theo Quyết định 06/2008/QĐ-NHNN khác hệ thống CAMELS quốc tế ở điểm nào? Quyết định 06/2008/QĐ-NHNN sử dụng thang điểm 100 cố định dựa trên dữ liệu báo cáo lịch sử và chưa tính đến tiêu chí độ nhạy cảm thị trường (Sensitivity). Trong khi đó, hệ thống CAMELS quốc tế đánh giá riêng biệt từng cấu phần từ hạng 1 đến 5, kết hợp giữa dữ liệu định lượng quá khứ và các kịch bản dự báo biến động vĩ mô tương lai.

Sự can thiệp bằng văn bản hành chính vào phân loại nợ để lại hệ lụy gì cho thị trường? Việc chỉ đạo giữ nguyên nhóm nợ hoặc giãn trích lập dự phòng cho các đối tượng đặc biệt làm méo mó thông tin tài chính, tạo ra lợi nhuận ảo và che giấu sự sụt giảm của vốn tự có. Điều này dẫn đến tình trạng bất cân xứng thông tin trầm trọng, khiến người gửi tiền và nhà đầu tư mất niềm tin vào độ an toàn của hệ thống.

Lộ trình áp dụng IFRS mang lại lợi ích gì cho hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam? Áp dụng IFRS giúp chuẩn hóa dữ liệu tài chính theo thông lệ toàn cầu, nâng cao tính minh bạch, hỗ trợ đắc lực cho việc triển khai Basel II và cải thiện hệ số tín nhiệm quốc tế. Nhờ đó, các ngân hàng thương mại Việt Nam có thể dễ dàng tiếp cận thị trường vốn quốc tế với chi phí huy động thấp hơn.

Kết luận

  • Sự khác biệt giữa khuôn khổ kế toán VAS và IFRS tạo ra khoảng cách lớn về chất lượng thông tin, làm sai lệch kết quả xếp hạng an toàn CAMELS từ Hạng B xuống Hạng D tại các ngân hàng thương mại nghiên cứu.
  • Các can thiệp hành chính trong việc chỉ định nhóm nợ ưu đãi khiến chi phí dự phòng rủi ro bị thiếu hụt hàng nghìn tỷ đồng, che giấu các khoản lỗ lớn và làm suy giảm vốn tự có thực tế.
  • Nghiệp vụ bán nợ nhận trái phiếu đặc biệt VAMC chỉ mang tính kỹ thuật giãn hoãn thời gian trích lập dự phòng chứ chưa giải quyết triệt để rủi ro tín dụng trên bảng cân đối kế toán.
  • Việc chuyển đổi sang IFRS và chuẩn hóa hệ thống CAMELS là yêu cầu cấp bách nhằm tăng cường năng lực giám sát vi mô, đáp ứng mục tiêu quản trị an toàn theo Đề án 254/QĐ-TTg.
  • Các ngân hàng thương mại cần nhanh chóng xây dựng lộ trình chuyển đổi kỹ thuật, chuẩn bị nguồn lực áp dụng IFRS toàn diện trước năm 2020 nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập tài chính quốc tế.