PHẦN MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu Thị trường chứng khoán Việt Nam giao dịch đầu tiên vào năm 2000 và phát triển đã được 18 năm, là một kênh huy động vốn của doanh nghiệp. Việt Nam vẫn đang là thị trường cận biên, mỏng manh, dễ bị biến động bởi tác nhân bên ngoài, điển hình là gần đây chịu nhiều tác động trước động thái của nhà đầu tư nước ngoài. Năm 2009, để thu hút dòng vốn từ nước ngoài và hỗ trợ các doanh nghiệp địa phương, Việt Nam đã nới lỏng những hạn chế ban đầu về đầu tư nước ngoài, trong đó nâng giới hạn tỷ lệ vốn đầu tư nước ngoài không quá 49% từ mức 30% trước đó. Năm 2015, Nghị định 60/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung quy định không hạn chế tỷ lệ sở hữu nước ngoài (tuy nhiên việc dỡ bỏ này có kèm theo điều kiện), đây được xem là bước đột phá về giới hạn sở hữu cho nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam, đặc biệt với nhiều doanh nghiệp đang trong tình trạng cạn “room”.
Hiện nay, Việt Nam đang cạnh tranh với các đối thủ như Phillipines và Myanmar để trở thành điểm thu hút đầu tư tiếp theo tại châu Á sau Trung Quốc, Thái Lan,.Bằng cách tăng cường sửa đổi luật chứng khoán với mong muốn lọt vào danh sách thị trường mới nổi của MSCI, đa dạng hóa sản phẩm, đẩy mạnh công tác cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước nhằm để thu hút dòng vốn nước ngoài vào thị trường trong nước. Thật vậy, số lượng mở tài khoản và giá trị giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài tại thị trường Việt Nam có xu hướng ngày càng gia tăng. Thanh khoản thị trường chứng khoán góp phần đảm bảo thị trường tài chính nói riêng và nền kinh tế nói chung vận hành tốt. Tính thiếu thanh khoản đang là vấn đề nan giải của thị trường cận biên và mới nổi.
Tính thanh khoản càng có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của thị trường chứng khoán trong bối cảnh cạnh tranh thu hút vốn đầu tư trên thế giới, hấp dẫn các nhà đầu tư và tạo cơ hội đầu tư để kiếm lời trên thị trường, doanh nghiệp dễ dàng huy động vốn khi cần thiết. Vai trò của nhà đầu tư ngày càng tăng cùng với độ mở thị trường tài chính. Khủng hoảng tài chính toàn cầu cũng do nhà đầu tư nước ngoài góp phần, rút tiền ra LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 khỏi các nước làm giảm thanh khoản nhanh chóng. Vấn đề đặt ra là liệu với sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài có làm cải thiện tính thanh khoản thị trường để giúp thị trường hoạt động hiệu quả hơn hay không.
Cho đến nay có nhiều bài nghiên cứu không đồng nhất về ảnh hưởng của sở hữu nước ngoài lên thanh khoản. Bài nghiên cứu sẽ phân tích ảnh hưởng của sở hữu nước ngoài lên thanh khoản thị trường chứng khoán Việt Nam thông qua chênh lệch giá chào mua – chào bán và tác động giá của giao dịch (trong khi các nghiên cứu trước đây xem hai thước đo thanh khoản tương tự nhau). Bài nghiên cứu sẽ phân tích sự gia tăng tỷ lệ sở hữu nước ngoài tác động lên thanh khoản sau khủng hoảng tài chính toàn cầu và Việt Nam bắt đầu dỡ bỏ giới hạn tỷ lệ sở hữu nước ngoài.2 Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu của bài luận văn là đánh giá vai trò của nhà đầu tư nước ngoài trong thị trường chứng khoán Việt Nam từ năm 2008 đến 2018. Cụ thể là đánh giá tác động của sở hữu nước ngoài lên tính thanh khoản của thị trường (thanh khoản được đo lường bằng chi phí lựa chọn bất lợi và chênh lệch giá mua – bán).3 Câu hỏi nghiên cứu Từ mục tiêu nghiên cứu, bài luận văn sẽ trả lời các câu hỏi sau: Thứ nhất, liệu sở hữu nước ngoài càng cao có dẫn đến chi phí lựa chọn bất lợi trong giao dịch cho nhà cung cấp thanh khoản trong nước càng lớn không? Thứ hai, tác động của sở hữu nước ngoài như thế nào đến chi phí giao dịch (chênh lệch giá chào mua – chào bán)? Từ đó, sở hữu nước ngoài có mang lại lợi ích cho thanh khoản thị trường chứng khoán thông qua hiệu ứng khám phá không? 1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Bài luận văn sử dụng mẫu của 203 doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn từ năm 2009-2018.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.5 Phương pháp nghiên cứu Tiến hành phân tích hồi quy để nghiên cứu mức độ ảnh hưởng giá của giao dịch và chênh lệch giá mua - bán có liên quan đến sở hữu nước ngoài. Bằng nhiều phương pháp ước tính khác nhau Pooled OLS, Fixed-effect, Random-effect rồi chọn lựa mô hình phù hợp nhất. Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng, sử dụng phần mềm Stata 12 để thực hiện định lượng.6 Ý nghĩa nghiên cứu Trong bối cảnh hội nhập ngày càng mở rộng và giảm giới hạn tỷ lệ sở hữu nước ngoài, xu hướng nguồn vốn nước ngoài trực tiếp và gián tiếp tăng lên, đặc biệt nguồn vốn gián tiếp thông qua kênh chứng khoán ngày càng tăng nhanh chóng và ảnh hưởng đến tính thanh khoản, tâm lý nhà đầu tư trong nước,…Bài nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm các yếu tố tác động lên thanh khoản thị trường mà trong đó có vai trò của nước ngoài, từ đó có những hướng đi giúp thị trường chứng khoán Việt Nam hấp dẫn với các nhà đầu tư trong và ngoài nước.7 Kết cấu luận văn Bài nghiên cứu được sắp xếp theo các phần sau: 1. Giới thiệu đề tài: Trình bày các lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu và bố cục nghiên cứu.
Tổng quan các nghiên cứu trước đây: Nếu cơ sở lý thuyết và trình bày kết quả của các nghiên cứu trước về ảnh hưởng của sở hữu nước ngoài lên thanh khoản thị trường chứng khoán. Phương pháp nghiên cứu: Trình bày chi tiết dữ liệu, tính toán các biến và mô hình nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu: Trình bày thống kê mô tả và kết quả thực nghiệm. Kết luận và hạn chế: Trình bày những đóng góp nghiên cứu, hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƯƠNG 2. KHUNG LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Khung lý thuyết Theo Rubin (2007), có hai lý thuyết mà các nhà nghiên cứu thường áp dụng vào phân tích khi đánh giá mối quan hệ thanh khoản - sở hữu nước ngoài. Đó là lý thuyết lựa chọn bất lợi (Adverse selection hypothesis) và lý thuyết giao dịch (Trading hypothesis).1 Lý thuyết lựa chọn bất lợi (adverse selection hypothesis) Lý thuyết lựa chọn bất lợi nêu rằng khi các cổ đông có thông tin vượt trội so với các cổ đông bên ngoài, sẽ xuất hiện sự bất cân xứng thông tin, từ đó làm giảm tính thanh khoản (Grossman & Stiglitz, 1980; Easley & O'Hara, 1987, Merton, 1987; French & Poterba, 1991; Grullon & Albert Wang, 2001). Agarwal (2007) phát hiện rằng lợi thế thông tin của các tổ chức có thể ảnh hưởng đến thanh khoản thông qua lựa chọn bất lợi và hiệu quả thông tin.
Hiệu ứng lựa chọn bất lợi là kết quả của sự gia tăng sự bất cân xứng thông tin trong khi hiệu ứng hiệu quả thông tin là kết quả của sự gia tăng cạnh tranh giữa các tổ chức. Glosten & Milgrom (1985) nêu rằng lựa chọn bất lợi là do tồn tại bất cân xứng thông tin giữa nhà đầu tư có lợi thế thông tin và nhà đầu tư bất lợi thông tin, Các cổ đông có thông tin tốt hơn làm trầm trọng vấn đề lựa chọn bất lợi đối với các nhà đầu tư nhỏ và nhà tạo lập thị trường, từ đó làm giảm thanh khoản. Nguyên nhân là do các nhà cung cấp thanh khoản điều chỉnh chênh lệch giá mua - bán và đòi hỏi chênh lệch rộng hơn để thích ứng với các khoản lỗ trong giao dịch mà nhà giao dịch có thông tin (Kyle, 1985). Lựa chọn bất lợi nảy sinh do tồn tại tình trạng bất cân xứng thông tin.
Một bên trong giao dịch có nhiều thông tin về đối tượng giao dịch hơn bên kia, người có ưu thế về thông tin có thể cung cấp những thông tin không trung thực về đối tượng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 được giao dịch cho bên kém ưu thế thông tin. Kết quả là, bên kém ưu thế về thông tin đồng ý hoàn thành giao dịch và nhận được thứ không như mình mong muốn. Tóm lại, nhà đầu tư nước ngoài có khả năng thu thập thông tin tốt hơn, khả năng phân tích ưu việt hơn nhà đầu tư trong nước (đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ khối lượng lớn thường xuyên tiếp xúc với ban quản lý công ty có hiểu biết sâu về doanh nghiệp) sẽ làm giảm tính thanh khoản của thị trường chứng khoán. Bởi sự bất cân xứng thông tin này làm gia tăng rủi ro lựa chọn bất lợi trong giao dịch của nhà cung cấp thanh khoản, gia tăng nhạy cảm của giá làm chi phí giao dịch tăng.2 Lý thuyết giao dịch (Trading hypothesis) Lý thuyết giao dịch nêu rằng khi các nhà đầu tư quay vòng danh mục đầu tư của mình thường xuyên hơn, chi phí giao dịch sẽ giảm, điều này làm gia tăng tính thanh khoản (Demsetz, 1968; Merton, 1987; Lewis, 1999; Fu, 2009).
Môi trường giàu thông tin sẽ thu hút các nhà đầu tư tham gia thị trường, họ mạnh dạn gia tăng giao dịch. Khối lượng giao dịch càng lớn nhờ sự minh bạch thông tin sẽ làm chi phí giao dịch (chi phí thuế và phí giao dịch đặt lệnh) càng giảm, từ đó cải thiện thanh khoản thị trường (Healy & Palepu, 2001). Thông tin càng chất lượng sẽ làm giảm bất cân xứng thông tin giữa các nhà đầu tư và tăng khả năng giao dịch để đạt hiệu quả giao dịch với chi phí hợp lý. Tóm lại, sự tham gia của các cổ đông nước ngoài với thông tin tốt hơn thúc đẩy cạnh tranh giữa các nhà giao dịch có thông tin và từ đó đẩy nhanh tốc độ thông tin được phản ánh vào giá chứng khoán.
Tác động hiệu quả thông tin được tăng cường thông qua cạnh tranh giữa các nhà đầu tư có thông tin. Sự cạnh tranh này đem lại lợi ích cho các nhà giao dịch thanh khoản vì nó làm giảm các khoản lỗ giao dịch kỳ vọng của họ thông qua gia tăng hiệu quả thông tin của giá chứng khoán, qua đó thu hút sự gia nhập của các nhà giao dịch thiếu thông tin, các nhà đầu tư gia tăng giao dịch dẫn đến gia tăng tính thanh khoản. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.