chương 1 đã chỉ ra tính tất yếu của kiểm soát rủi ro tín dụng trong việc thực hiện được mục tiêu tăng trưởng an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững. Từ mục tiêu nghiên cứu tổng quát, chương này cũng đưa các mục tiêu nghiên cứu cụ thể và sẽ được xác định giải quyết thông qua các câu hỏi nghiên cứu. Bên cạnh đó, đề tài cũng đã chỉ ra đối tượng nghiên cứu và giới hạn phạm vi nghiên cứu về nội dung, thời gian và không gian. Sau khi khái quát nguồn dữ liệu và phương pháp nghiên cứu, chương này đã khẳng định ý nghĩa khoa học và thực tiễn của của đề tài.
Cuối cùng, chương này đã cung cấp thông tin khái quát cấu trúc đề tài bao gồm 5 chương nội dung. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2. Cơ sở lý thuyết về rủi ro tín dụng 2. Khái niệm về tín dụng Tín dụng là một phạm trù kinh tế gắn liền với kinh tế hàng hóa.
Sự ra đời và tồn tại của tín dụng bắt nguồn từ đặc điểm của chu chuyển vốn tiền tệ và sự cần thiết sinh lợi đối với vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi và nhu cầu vốn nhưng chưa tích lũy kịp, dẫn đến sự hình thành quan hệ cung cầu tiền tệ giữa người đi vay và người cho vay, do đó tín dụng xuất hiện, tồn tại như là một sự cần thiết khách quan trong nền kinh tế. Tín dụng được định nghĩa là các giao dịch liên quan đến việc chuyển giao tiền bạc hoặc tài sản kèm theo lời hứa trả nợ, thường là vào một ngày cố định trong tương lai. Bên chuyển nhượng được gọi là chủ nợ và bên nhận chuyển nhượng được gọi là người vay nợ; do đó tín dụng và nợ chỉ đơn giản là các hoạt động được nhìn từ hai phía ngược nhau (Marples & Lowry, 2008). Tín dụng ngân hàng liên quan đến khoản vay được ngân hàng cấp cho một cá nhân, doanh nghiệp hoặc tổ chức, dưới dạng tiền mặt.
Loại hình cho vay có thể có nhiều hình thức từ khoản vay đến hạn mức tín dụng. Chức năng chính của tín dụng là chuyển tài sản từ những người sở hữu sang những người muốn sử dụng, như trong việc cấp các khoản vay của các ngân hàng cho các cá nhân, doanh nghiệp có kế hoạch bắt đầu hoặc mở rộng hoạt động kinh doanh (Bessis, 2002). Việc chuyển giao chỉ là tạm thời và được thực hiện với một mức giá, được gọi là lãi suất, thay đổi theo rủi ro liên quan, cũng như nhu cầu và cung tín dụng (Stiglitz & Weiss, 1981). Hay theo Naceur & Omran (2011) tín dụng là sự tin tưởng của ngân hàng đối với khách hàng của mình để cung cấp cho họ một số tiền nhất định, được sử dụng cho một mục đích cụ thể trong một thời gian nhất định, và việc thanh toán được thực hiện dưới các điều kiện cụ thể cùng các cam kết đảm bảo cho ngân hàng thu hồi.
Tín dụng ngân hàng là một trong những hoạt động hấp dẫn nhất đối với ban lãnh đạo ngân hàng, nhưng nó cũng rất nhạy cảm và nguy hiểm, bởi vì nó là kênh 9 đầu tư quan trọng của các ngân hàng thương mại, quyết định việc ngân hàng phá sản hoặc thu được lợi nhuận rất cao (Al-Zubaidi, 2002). Vai trò của các ngân hàng nói chung và tầm quan trọng của tín dụng nói riêng với tăng trưởng và phát triển kinh tế là rất đáng kể. Với chức năng chủ yếu là tạo điều kiện chu chuyển vốn hoặc tiền tệ đến nơi được sử dụng hiệu quả và thông qua hoạt động tín dụng mà sử dụng nguồn lao động và nguồn nguyên liệu một cách hợp lý, thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế, đồng thời góp phần giải quyết các vấn đề xã hội. Khái niệm rủi ro tín dụng Coyle (2000) định nghĩa rủi ro tín dụng là tổn thất từ sự từ chối hoặc không có khả năng của khách hàng để trả những gì còn nợ đầy đủ và đúng hạn.
Các nguồn rủi ro tín dụng chính bao gồm: năng lực thể chế hạn chế, chính sách tín dụng không phù hợp, lãi suất không ổn định, quản lý kém, luật không phù hợp, mức vốn và thanh khoản thấp, cho vay trực tiếp, cấp phép nới lỏng cho ngân hàng, bảo lãnh cho vay kém, cho vay thiếu thận trọng, đánh giá tín dụng kém… Còn đối với Claessens (2010) định nghĩa rủi ro tín dụng là rủi ro mà một hợp đồng tài chính không được tôn trọng theo tập hợp các điều khoản hoặc kỳ vọng ban đầu. Theo Fitch Thomas (1993): “Rủi ro tín dụng là loại rủi ro xảy ra khi người vay không thanh toán được nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ. Là rủi ro chủ yếu trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng”. Theo Gup (2005): “Rủi ro tín dụng là rủi ro xảy ra khi khách hàng mất khả năng chi trả trong hoạt động tín dụng, từ đó gây ra tổn thất cho ngân hàng.
Rủi ro tín dụng áp dụng cho cả các khoản vay, phái sinh, các giao dịch về tỷ giá hối đoái, danh mục đầu tư và các hoạt động tài chính khác. Đối với các khoản cho vay, thì rủi ro tín dụng xảy ra khi người đi vay mất khả năng chi trả các khoản nợ, gây tổn thất cho người cho vay”. Rủi ro tín dụng là khả năng mà người được cấp tín dụng hoặc đối tác của NHTM thất bại trong việc thực hiện theo các điều khoản hoàn trả đã thỏa thuận (Basel Committee on Banking Supervision, 1999), do đó rủi ro tín dụng còn được 10 gọi là rủi ro vỡ nợ, phát sinh từ các không chắc chắn liên quan đến việc không hoàn trả các khoản tín dụng từ phía khách hàng cho NHTM. Và theo Stephanou & Mendoza (2005) rủi ro tín dụng là “ nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi, hoặc hoàn trả gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng” hay với Koch (1995) thì đó là “sự thay đổi tiềm ẩn trong thu nhập thuần và thị giá khi khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn”.
Còn theo quan điểm của Ngân hàng nhà nước Việt Nam (2013): “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng (sau đây gọi tắt là rủi ro) là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Từ các quan điểm nêu ra ở trên, rủi ro tín dụng là khả năng gây tổn thất cho ngân hàng phát sinh khi bên đối tác không thực hiện một nghĩa vụ cam kết với ngân hàng, bao gồm cả việc không thanh toán hoặc thanh toán trễ hạn cho dù đó là nợ gốc hay nợ lãi khi đến hạn. Rủi ro tín dụng sẽ dẫn đến tổn thất tài chính, tức là làm giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn. Trong trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến thua lỗ, hoặc ở mức độ cao hơn có thể dẫn đến phá sản.
Phân loại rủi ro tín dụng 2. Phân loại theo nguyên nhân phát sinh rủi ro tín dụng Theo Hồ Diệu (2002) căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được phân chia thành hai loại: rủi ro giao dịch (Transaction risk) và rủi ro danh mục (Portfolio risk). Rủi ro giao dịch phát sinh do những hạn chế trong quá trình giao dịch, xét duyệt cho vay và đánh giá khách hàng bao gồm: rủi ro lựa chọn, rủi ro đảm bảo và rủi ro nghiệp vụ. Rủi ro lựa chọn liên quan đến quá trình thẩm định, phân tích tín dụng của ngân hàng khi lựa chọn phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay.
Rủi ro bảo đảm phát sinh từ những tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản bảo đảm, chủ thể đảm bảo, cách 11 thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị tài sản đảm bảo. Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến các thao tác trong quá trình thực hiện các khoản tín dụng. Rủi ro danh mục phát sinh do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, bao gồm rủi ro nội tại (Intrinsic risk) và rủi ro tập trung (Concentration risk). Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay, xuất phát từ đặc điểm hoạt động, đặc điểm sử dụng vốn vay của khách hàng.
Vì gắn với đặc điểm của chủ thể được cấp tín dụng nên rủi ro nội tại là yếu tố không thể triệt tiêu được. Rủi ro tập trung xuất phát từ việc cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, một số ngành kinh tế hẹp, một số loại hình cho vay hoặc một khu vực địa lý, đi ngược với nguyên tắc đa dạng hóa để phân tán rủi ro. Chính sự xuất hiện của rủi ro nội tại và đặc tính không thể triệt tiêu của rủi ro nội tại nên việc đa dạng hóa để hạn chế và kiểm soát rủi ro tập trung là vấn đề cần thiết đối với các ngân hàng trong quá trình cấp tín dụng. Phân loại theo tính chất của rủi ro tín dụng Rủi ro khách quan là rủi ro tổn thất khoản vay mặc dù cả ngân hàng và người đi vay đều thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình do nguyên nhân thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh, hoả hoạn, người vay bị chết, mất tích… Rủi ro chủ quan là rủi ro do lỗi của bên đi vay hoặc của ngân hàng do vô tình hay cố ý gây ra dẫn đến thất thoát vốn vay.
Nguyên nhân của rủi ro tín dụng Có nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng và có thể phân chia chúng thành các nhóm nguyên nhân sau: Nhóm nguyên nhân xuất phát từ ngân hàng Sự yếu kém của đội ngũ cán bộ. Sự yếu kém ở đây bao gồm cả về năng lực và phẩm chất đạo đức. Nhân viên ngân hàng thiếu trách nhiệm, có trình độ năng lực yếu, đạo đức yếu kém dẫn tới cho vay với những doanh nghiệp, cá nhân không đủ điều kiện vay vốn có hoạt động yếu kém với những hồ sơ tín dụng có vấn đề (Switzer & Wang, 2013). Nếu một cán bộ tín dụng non kém về trình độ, thiếu kiến thức, thiếu kinh nghiệm thì sẽ không có khả năng thẩm định và xử lý thông tin, 12 đánh giá khách hàng thiếu chính xác, mức vay, lãi suất vay và kỳ hạn không phù hợp; dẫn đến chất lượng tín dụng thấp, rủi ro cao.