Chương 1 sẽ trình bày lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu cần được hoàn thành. Từ đó chỉ ra đối tượng và phạm vi nghiên cứu cho luận văn. Đồng thời, chương này cũng trình bày tổng quát về phương pháp nghiên cứu để giải quyết các mục tiêu và trả lời các câu hỏi nghiên cứu. Cuối cùng, chương cũng chỉ ra được mặt đóng góp về thực tiễn của luận văn này.
9 HƯ NG 2 SỞ LÝ THUY T V TÌNH HÌNH NGHIÊN ỨU 2. sở l luận về n xấu tại n n n t n mại 2. Khái ni m n xấu Trần Huy Hoàng (2011) cho rằng nợ xấu là khoản cấp tín dụng của ngân hàng cho khách hàng đã đến hạn thanh toán mà họ không có khả năng thực hiện ngh a vụ trả nợ vô điều kiện, điều này làm cho ngân hàng không thu hồi được gốc và lãi. Các khoản nợ này bị quá thời hạn thanh toán từ 91 ngày trở lên.
Mặt khác, các TSĐB đem thế chấp, cầm cố hay bảo lãnh tại ngân hàng sẽ được tiến hành thanh lý để xử lý nợ nhưng khả năng không đủ để bù đắp cho khoản nợ này. Ngoài ra, nợ xấu được xác định thông qua quy định chung của quốc tế và hiệu chỉnh theo tình hình kinh tế đặc thù của mỗi quốc gia với hoạt động kinh doanh riêng của hệ thống NHTM. Theo TT11/2021/TTNHNN thì các khoản nợ quá hạn thuộc nhóm 3, 4, 5 được xếp vào tính chất khó thu hồi hay dẫn đến không thu hồi được thì được xem là nợ xấu. Các khoản nợ này gia tăng thì các NHTM buộc phải đối diện với sự suy giảm tài sản, lợi nhuận lẫn uy tín của mình do bị đe dọa bởi các khoản thanh toán tiền gửi tiết kiệm khi đến hạn.
Vì vậy, nợ xấu được xem là một trong những tiêu chí để đánh giá chất lượng khoản cấp tín dụng và dấu hiệu đáng báo động của RRTD tại các NHTM. Chỉ tiêu nợ xấu được phản ánh như sau: Tỷ l n xấu = Nguồn: Nguyễn Văn Tiến (2015) Ngoài tỷ lệ nợ xấu nói trên thì NHTM cũng sử dụng trích lập DPRRTD phản ánh cho tình hình nợ xấu của ngân hàng. Vì tỷ lệ này được xem là quá trình nhận biết và quản trị sớm các sự tổn thất từ các khoản cấp tín dụng hay ước lượng sự mất mát tài sản của ngân hàng, vì khi hoạt động tín dụng diễn ra thì ngân hàng đã luôn phải đối mặt với việc khách hàng sẽ không có hoặc mất đi khả năng thanh toán gốc lãi bất kì lúc nào, hay nói cách khác là vi phạm nguyên tắc hoàn trả. Vì vậy, khoản dự phòng này là nguồn dự trữ để ngân hàng đối mặt với những rủi ro tiếp theo từ 10 hoạt động tín dụng không hiệu quả (Nguyễn Văn Tiến, 2015).
Theo quyết định số 22/VBNN – NHNN ban hành ngày 04/06/2014 thì các khoản nợ xấu thuộc nhóm nợ quá hạn 3, 4, 5 thì mới được trích lập DPRRTD và đây là trích lập cụ thể. Như đã đề cập phía trước khoản dự phòng là chi phí quản lý trả trước và được kết chuyển thành chi phí hoạt động của ngân hàng, do đó trích lập DPRRTD càng cao thì lợi nhuận ngân hàng kỳ đó càng suy giảm, giá trị tài sản cũng giảm theo hay hiệu quả HĐKD của NHTM cũng kém đi. Mức trích lập dự phòng rủi ro tín dụng được tính bằng chỉ số như sau: Tỷ l dự phòng RRTD = *100% Nguồn: Nguyễn Văn Tiến (2015) 2. Nguyên nhân gây ra n xấu tại n n n t n mại Theo Phan Thị Thu Hà (2013) thì NHTM thực hiện chức năng trung gian tài chính, luận chuyển các nguồn vốn thừa đến nơi thiếu trong nền kinh tế.
Do đó, NHTM sẽ giao dịch với các đối tượng bên trong lẫn bên ngoài ngân hàng, nên nợ xấu tại các NHTM được hình thành từ các nguyên nhân khác nhau, tuy nhiên chủ yếu tập xuất phát từ ba khía cạnh đó là bản thân ngân hàng, khách hàng và các nguyên nhân khách quan khác: 2. Nguyên nhân từ p í n ân àn t ươn mại Các NHTM gặp tình trạng bất cân xứng thông tin trong quá trình thu thập và thẩm định tư cách tín dụng của các khách hàng, từ đó dẫn dến việc xác định sai điểm tín dụng hay phương án cho vay không phù hợp với hoạt động kinh doanh của khách hàng. Đội ngũ nhân viên của các NHTM có năng lực chuyên môn yếu kém dẫn tới việc tính toán, xác định mức giải ngân hay đánh giá tình hình kinh doanh lẫn nguồn trả nợ của khách hàng không chính xác. Đồng thời, đội ngũ nhân viên bị suy giảm về mặt đạo đức nghề nghiệp, thông đồng với khách hàng để hạn chế tính nghiêm ngặt của quy trình, từ đó làm sai các quy định về thẩm định, giải ngân.
Mặt khác, sự lơ 11 là và chủ quan của đội ngũ nhân viên trong việc kiểm soát sau giải ngân về các nguồn thu chi của khách hàng, tính chính xác trong việc sử dụng vốn có phù hợp với phương án kinh doanh trình bày khi làm thủ tục hay không ? Với sự cạnh tranh gay gắt với các đối thủ trong hệ thống các NHTM tiến hành nới lỏng các quy định lẫn chính sách tín dụng, để chạy đua với việc gia tăng dư nợ. Hoặc các NHTM tham vọng trong việc mở rộng thị phần lẫn lợi nhuận nên tăng cường giải ngân. Từ đó, chất lượng hồ sơ tín dụng có dấu hiệu suy kém, không chọn lọc tư cách khách hàng nên dẫn đến hình thành rủi ro tiềm ẩn với nợ xấu trong tương lai. uyên n ân n từ khách hàng các doanh nghiệp thì năng lực của người quản lý yếu kếm nên dẫn đến việc hoạt động kinh doanh kém hiệu quả.
Mặt khác, tình hình tài chính và kế toán của doanh nghiệp không công khai minh bạch. Hay các doanh nghiệp có quy mô nhỏ nên các công tác quản lý tài chính, kế toán tùy tiện mang tính đối phó. Do đó, dẫn đến các thông tin mà ngân hàng thu thập mất cân xứng hoặc thiếu tính xác thực. Ngoài ra, các hoạt động đầu tư vượt quá tầm quản lý dẫn đến kém hiệu quả, đe dọa bởi các nguy cơ phá sản.
Kể cả các khách hàng cá nhân cũng như doanh nghiệp thì mục đích sử dụng vốn vay là rất quan trọng. Tuy nhiên, các đối tượng khách hàng có những thông đồng với nhân viên ngân hàng qua mặt các quy định hay quy trình để gian dối, sử dụng vốn với mục đích sai khác với kế hoạch kinh doanh trình với ngân hàng để vay vốn. Ngoài ra, các khách hàng có tâm lý muốn chiếm dụng vốn của ngân hàng để thực hiện các hoạt động kinh doanh khác hay đầu tư nhưng thị trường không thuận lợi dẫn đến thua lỗ, phá sản và mất khả năng hoàn trả cho ngân hàng. Tại một thực tế khác với việc được tự do hóa khi vay vốn thì một doanh nghiệp có thể thiết lập cùng lúc nhiều hợp đồng tín dụng với các NHTM khác nhau.
Do đó, việc theo dõi, kiểm soát, quản lý dòng tiền của khách hàng từ các cán bộ tín dụng sẽ trở nên khó khăn, phức tạp, đặc biệt là tình trạng sử dụng vốn vay chồng chéo. Điều này dẫn đến hiệu ứng rủi ro kéo theo khi các doanh nghiệp không quản lý được khả năng 12 tài chính, thì việc mất khả năng thanh toán liên tục xảy ra. Nguyên nhân khách quan khác Môi trường kinh t : vấn đề này đề cập đến sự tăng trưởng hay suy giảm của nền kinh tế nói chung. Nếu hoạt động của NHTM được đặt trong môi trường kinh tế tăng trưởng thì kinh doanh của ngân hàng sẽ ổn định, bền vững điều này tạo điều kiện cho hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng phát triển và gặp ít rủi ro.
Ngược lại nếu môi trường kinh tế có sự suy giảm hay khó khăn kéo dài thì hoạt động kinh doanh lẫn cấp tín dụng tại ngân hàng cũng bị ảnh hưởng xấu theo. Mặt khác, với sự hội nhập về kinh tế sẽ tạo môi trường tự do hóa khiến các hoạt động kinh doanh có những nét thuận lợi cho ngân hàng, nhưng từ đó tạo ra sự cạnh tranh khốc liệt cho các ngân hàng tạo ra sự đào thải, từ đó làm cho các NHTM gặp nguy cơ với nợ xấu khi muốn gia tăng sự cạnh tranh của mình bằng cách gia tăng dư nợ tín dụng nhanh chóng. Môi trường pháp lý: vấn đề này đề cập những sự bất cập hay khoảng trống trong việc ban hành, áp dụng hay thi hành luật pháp hoặc sự thiếu đồng bộ trong việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật. Do đó, tạo ra sự khó khăn trong việc quản trị, ngăn chặn và phòng ngừa các rủi ro tại ngân hàng.
Môi trường xã h i: hoạt động kinh doanh của các đối tượng khách hàng cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và NHTM luôn phải chịu sự tác động của các biến động về kinh tế, chính trị trong nước và nước ngoài. Những sự biến động này chủ yếu tập trung vào sự thay đổi của tỷ giá hối đoái, cán cân thương mại, sức mua của đồng tiền, nhu cầu tiêu dùng,… chính những sự thay đổi này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ trong nền kinh tế, các doanh nghiệp và kể cả hoạt động tín dụng của ngân hàng. Khả năn sin lời củ n n n t n mại 2. Khái ni m khả năn sin lời củ n n n t n mại Rose (2002) cho rằng KNSL của các NHTM có thể dựa trên lý thuyết nền tảng về hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, vì NHTM là loại doanh nghiệp 13 đặc biệt với chức năng kinh doanh tiền tệ.
Từ đó, suy rộng ra thì KNSL của các NHTM chính là khả năng tạo ra lợi nhuận cho các ngân hàng từ các nguồn lực của tổ chức đó, đồng thời đảm bảo sự an toàn trong hoạt động kinh doanh. Mặt khác, KNSL của ngân hàng không chỉ đề cập đến lợi nhuận ngay tại thời điểm xét đến mà còn tính đến sự hợp lý nguồn hình thành lợi nhuận đó có hợp lý từ cấu trúc nguồn vốn và tài sản của ngân hàng, từ đó sẽ đánh giá được sự tăng trưởng ổn định của lợi nhuận. Trong đó, nguồn lực chính có thể giúp cho các NHTM tạo ra lợi nhuận đó là cơ sở vật chất, sức lao động hay các nguồn năng lực tài chính như cho vay, đầu tư. Đây cũng là các điều kiện để xem xét tính hiệu quả trong hoạt động và các nhân tố tác động đến KNSL cho ngân hàng.