CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 1. NHỮNG NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA LẠM PHÁT LÊN GIÁ CHỨNG KHOÁN: Fama và Schwert (1977) nghiên cứu mối liên hệ giữa tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu, trái phiếu Chính phủ Mỹ và các biến khác với lạm phát kỳ vọng, không kỳ vọng. Dữ liệu được lấy từ 1953 đến 1971. Kết quả tác giả tìm thấy mối quan hệ nghịch biến giữa cổ phiếu, trái phiếu Chính phủ với lạm phát kỳ vọng và không kỳ vọng.John (1980) nghiên cứu tác động của lạm phát kỳ vọng lên chỉ số giá của 500 cổ phiếu tại Mỹ.
Kết quả tác giả tìm thấy mối quan hệ nghịch biến giữa lạm phát kỳ vọng và giá cổ phiếu. Samarakoon (1996) nghiên cứu mối quan hệ giữa tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu với lạm phát kỳ vọng ở Sri Lanka, dữ liệu được lấy hàng tháng và hàng quý từ tháng 1 năm 1985 đến tháng 8 năm 1996, mô hình được sử dụng trung bình trượt kết hợp tự hồi quy-ARIMA. Kết quả tác giả phát hiện ra rằng lợi nhuận cổ phiếu danh nghĩa tác động nghịch biến đến lạm phát kỳ vọng nhưng chỉ có ý nghĩa thống kê ở dữ liệu quý. Bahram Adrangi, Arjun Chatrath và Todd M.Shank (1999) nghiên cứu mối quan hệ giữa lạm phát, chỉ số sản xuất công nghiệp với giá cổ phiếu ở hai nước Mỹ Latin là Pê ru và Chi Lê, sử dụng mô hình ARIMA và kiểm định đồng liên kết.
Kết quả chỉ ra rằng có quan hệ nghịch biến giữa giá cổ phiếu và lạm phát ở cả hai nước và mối quan hệ đồng biến giữa giá cổ phiếu với chỉ số sản xuất công nghiệp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Tanggaard (2002) phân tích mối quan hệ giữa tỷ suất sinh lợi mong đợi với lạm phát kỳ vọng tại Mỹ và Đan Mạch bằng mô hình VAR. Kết quả tác giả phát hiện một mối quan hệ đồng biến giữa tỷ suất sinh lợi mong đợi của cổ phiếu với lạm phát kỳ vọng ở Mỹ và một mối quan hệ đồng biến mạnh mẽ ở Đan Mạch. Floros, Christos (2003) kiểm tra mối quan hệ giữa lạm phát với chỉ số giá chứng khoán tại Athen, Hy Lạp.
Dữ liệu được lấy hàng tháng từ 1988 đến 2002. Khi chạy hồi quy OLS tác giả tìm thấy mối quan hệ đồng biến giữa giá cổ phiếu với lạm phát, nhưng không có ý nghĩa thống kê. Sau đó tác giả tiến hành kiểm định đồng liên kết, kết quả không có mối quan hệ trong dài hạn giữa hai biến. Cuối cùng, tác giả kiểm định nhân quả Granger, nhưng lại không có bằng chứng nào thể hiện mối quan hệ giữa hai biến.
Paritosh Kumar (2010) nghiên cứu mối quan hệ giữa giá chứng khoán Ấn Độ với lạm phát và tỷ giá hối đoái. Mô hình được sử dụng là ARIMA và kiểm định đồng liên kết bằng phần mềm SAS. Kết quả tác giả tìm thấy mối quan hệ đồng biến giữa giá chứng khoán với lạm phát, ngược lại có mối quan hệ nghịch biến với tỷ giá hối đoái. NHỮNG NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CUNG TIỀN LÊN GIÁ CHỨNG KHOÁN: Homa và Jaffee (1971) ước lượng mối quan hệ cung tiền với giá chứng khoán tại Mỹ từ năm 1954 đến 1969, phương pháp tác giả sử dụng là hồi quy OLS.
Kết quả tác giả cho rằng sự gia tăng cung tiền trong quá khứ dẫn đến tăng tỷ suất sinh lợi cổ phiếu. Asprem (1989) nghiên cứu các mối quan hệ giữa các biến số kinh tế vĩ mô với giá cổ phiếu ở các nước Châu Âu và tìm thấy một mối quan hệ đồng biến giữa biến sản xuất công nghiệp, cung tiền với giá cổ phiếu và mối quan hệ nghịch biến giữa biến lãi suất, lạm phát với giá cổ phiếu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Muzafar Shah Habibullah (1998) nghiên cứu tác động của cung tiền, sản lượng quốc gia lên giá chứng khoán tại Malaysia, dữ liệu được tác giả lấy theo tháng từ tháng 1 năm 1978 đến tháng 9 năm 1992. Mô hình được tác giả sử dụng là kiểm định đồng liên kết.
Kết quả cho thấy có ít nhất một mối quan hệ đồng liên kết giữa giá chứng khoán với cung tiền, sản lượng quốc gia. Bilson và các cộng sự (2001) đã kiểm tra liệu các biến kinh tế vĩ mô (cung tiền, giá cả…) có khả năng giải thích về lợi nhuận cổ phiếu trong 20 thị trường mới nổi trong giai đoạn 1985-1997 hay không. Kết quả chỉ ra rằng biến tỷ giá hối đoái rõ ràng là biến kinh tế vĩ mô có ảnh hưởng nhất, và cung tiền có tầm quan trọng lớn. Biniv Maskay (2006) nghiên cứu tác động của cung tiền lên giá chứng khoán S&P 500 tại Mỹ, mô hình được sử dụng là hồi quy hai bước.
Kết quả hồi quy bước một và bước hai đều cho thấy có mối quan hệ đồng biến giữa cung tiền với giá chứng khoán. Nawaz Ahmad và Dr. Fazal Husain (2007) nghiên cứu mối quan hệ cung tiền với giá chứng khoán tại Pakistan, dữ liệu được lấy theo tháng từ tháng 12 năm 2001 đến tháng 3 năm 2006. Mô hình được tác giả sử dụng là hồi quy đa biến.
Kết quả cho thấy giá chứng khoán tương quan dương với cung tiền và giữa hai biến có mối quan hệ cân bằng trong dài hạn. Sara Alatiqi và Shokoofeh Fazel (2008) nghiên cứu có phải sự thay đổi cung tiền có tác động đến sự thay đổi giá cổ phiếu. Dữ liệu được thu thập từ 1965 đến 2005. Các biến nghiên cứu gồm: chỉ số giá chứng khoán S&P 500, cung tiền, lãi suất trái phiếu kho bạc.
Mô hình đồng liên kết và nhân quả Granger được sử dụng. Kết quả cho thấy cung tiền có tương quan âm với giá cổ phiếu. Lumir Kulhanek (2011) nghiên cứu mối liên hệ giữa cung tiền, sản lượng quốc gia với giá chứng khoán ở Cộng hòa Séc, Phần Lan, Slovakia, Áo, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Đức và Anh. Tác giả kiểm định mối quan hệ cân bằng trong dài hạn và ngắn hạn bằng mô hình VAR, VECM và đồng liên kết.
Dữ liệu được thu thập theo quý từ quý 1 năm 1995 đến quý 2 năm 2011. Kết quả tác giả tìm thấy một mối quan hệ đồng liên kết giữa cung tiền, giá chứng khoán và sản lượng quốc gia. Cung tiền tác động đồng biến lên giá chứng khoán. Qurat-Ul-Ain Zafar, Mahira Rafique, Dr.
Zaheer Abbas (2011) nghiên cứu mối quan hệ cung tiền với giá chứng khoán ở Pakistan, dữ liệu được tác giả lấy hàng tháng từ tháng 06 năm 2004 đến tháng 12 năm 2009. Tác giả kiểm định đồng liên kết và nhân quả Granger. Kết quả cho thấy cung tiền không tác động lên giá chứng khoán, ngược lại, giá chứng khoán lại tác động lên cung tiền. NHỮNG NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI LÊN GIÁ CHỨNG KHOÁN: Aggarwal (1981) nghiên cứu mối quan hệ giữa chỉ số thị trường chứng khoán với tỷ giá đô la Mỹ cho giai đoạn 1974-1978 và thấy rằng giá cổ phiếu và tỷ giá hối đoái đang quan hệ đồng biến.
Phylakits và Ravazzolo (2000) kiểm định mối quan hệ cân bằng trong dài hạn giữa giá chứng khoán và tỷ giá hối đoái bằng mô hình đồng liên kết và nhân quả Granger tại sáu nước Châu Á: Hồng Công, Indonesia, Malaysia, Philipin, Singapore và Thái Lan. Dữ liệu được lấy hàng tháng từ tháng 1 năm 1990 đến tháng 12 năm 1998. Kết quả cho thấy rằng tỷ giá hối đoái và giá cổ phiếu có mối quan hệ đồng biến. Yutaka Kurihara (2006) điều tra thực nghiệm mối quan hệ giá chứng khoán với tỷ giá hối đoái tại Nhật, giá chứng khoán Mỹ.
Dữ liệu được lấy theo ngày từ 19 tháng 03 năm 2001 đến 30 tháng 09 năm 2005. Tác giả sử dụng kiểm định đồng liên kết và OLS, kết quả tác giả tìm thấy tỷ giá hối đoái LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 tương quan dương với giá chứng khoán và mối quan hệ cân bằng trong dài hạn giữa giá chứng khoán Nhật và Mỹ. Charles Adjasi, Simon K. Harvey, Daniel Agyapong (2008) kiểm định xem có phải tỷ giá hối đoái là nhân tố tác động lên sự thay đổi giá chứng khoán tại Ghana hay không, mô hình được tác giả sử dụng là EGARCH.
Kết quả có mối quan hệ nghịch biến giữa tỷ giá hối đoái và giá chứng khoán. Shehu Usman Rano Aliyu (2009) nghiên cứu mối quan hệ trong ngắn và dài hạn giữa giá chứng khoán với tỷ giá hối đoái tại Nigeria, dữ liệu nghiên cứu được lấy từ ngày 1 tháng 2 năm 2001 đến 31 tháng 12 năm 2008. Tác giả kiểm định nhân quả Granger, đồng liên kết. Kết quả tìm thấy mối quan hệ cân bằng trong dài hạn giữa hai biến, và hai biến này có tương quan âm.
Noel Dilrukshan Richards và John Simpson (2009) nghiên cứu mối quan hệ giữa giá chứng khoán với tỷ giá hối đoái ở Úc, dữ liệu được lấy từ ngày 2 tháng 1 năm 2003 đến 30 tháng 6 năm 2006, mô hình được tác giả sử dụng là VAR, đồng liên kết, kiểm định nhân quả Granger. Kết quả có mối quan hệ đồng liên kết và tương quan đồng biến giữa giá chứng khoán với tỷ giá đoái. Ahmed Alhayky và Ndambendia Houdou (2009) sử dụng cơ chế hiệu chỉnh sai số, đồng liên kết và nhân quả Granger để kiểm định mối quan hệ giữa giá chứng khoán với tỷ giá hối đoái tại Cô Oét trong giai đoạn từ tháng 6 năm 2001 đến tháng 12 năm 2008. Kết quả tác giả tìm thấy mối quan hệ cân bằng trong dài hạn giữa giá chứng khoán với tỷ giá hối đoái với các đồng tiền USD, YEN, GBP và không có mối quan hệ với EUR.
Osei (2011) nghiên cứu mối quan hệ giữa giá chứng khoán với tỷ giá hối đoái tại bảy nước Châu Phi. Mô hình tác giả sử dụng là VAR, đồng liên kết, phản ứng đẩy để xác định mối quan hệ trong ngắn và dài hạn giữa các biến. Kết quả có mối quan LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 hệ trong dài hạn giữa các biến và khi tỷ giá hối đoái bị định giá thấp làm cho giá cổ phiếu giảm. NHỮNG NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA LÃI SUẤT LÊN GIÁ CHỨNG KHOÁN: Hasan và Samarakoon (2000) nghiên cứu tác động của lãi suất trái phiếu ở các kỳ hạn 3, 6, 12 tháng lên giá chứng khoán tại Sri Lanka, dữ liệu được tác giả lấy từ năm 1990 đến 1997.
Mô hình tác giả sử dụng là hồi quy đa biến. Kết quả tác giả tìm thấy mối quan hệ đồng biến giữa giá chứng khoán với lãi suất trái phiếu ở tất cả các kỳ hạn.K (2009) nghiên cứu mối quan hệ giữa lãi suất huy động và tỷ giá hối đoái với giá chứng khoán tại Bangladesh , dữ liệu được tác giả lấy từ tháng 1 năm 1983 đến tháng 12 năm 2006.