Chương 1 - Giới thiệu. Chương này trình bày tóm lược các nội dung chính của luận văn, bao gồm: bối cảnh nghiên cứu và lý do chọn đề tài, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đóng góp đề tài và cuối cùng là kết cấu của nghiên cứu. Chương 2 - Cơ sở lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm về tác động của yếu tố moment bậc cao đến lợi nhuận cổ phiếu. Các cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài sẽ được trình bày trong chương này như lý thuyết nền tảng danh mục đầu tư Markowitz, đây là LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 cơ sở hình thành lý thuyết thị trường vốn và mô hình định giá tài sản vốn CAPM.
Tiếp theo là phần tổng hợp và đánh giá các công trình nghiên cứu trước đó ở cả Việt Nam và nước ngoài về sự ảnh hưởng các nhân tố moment bậc cao đến lợi nhuận cổ phiếu. Từ đó, luận văn sẽ đưa ra các giả thuyết nghiên cứu làm cơ sở để phát triển các mô hình nghiên cứu. Chương 3 - Phương pháp nghiên cứu. Trong chương này, luận văn sẽ trình bày cách thu thập nguồn dữ liệu nghiên cứu, trình bày các mô hình và cách xử lý, tính toán các biến của mô hình.
Tiếp theo, các phương pháp ước lượng hồi quy bao gồm phương pháp Pooled OLS, Fixed Effect, Random Effect và các kiểm định lựa chọn mô hình cũng được nêu lên. Bên cạnh đó, sơ lược về phương pháp ước lượng System GMM cùng với các kiểm định sẽ là điểm mới nghiên cứu để thấy rõ hơn về vai trò cũng như tính ưu việt của phương pháp. Chương 4 - Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Chương này trình bày các kết quả nghiên cứu và thảo luận một số vấn đề về mô hình.
Cụ thể, mẫu nghiên cứu sẽ được khái quát để có cái nhìn tổng quan về tình hình thị trường. Kết quả hồi quy các mô hình bằng các phương pháp khác nhau sẽ được tóm tắt và thảo luận về khả năng giải thích của các nhân tố rủi ro đến lợi nhuận cổ phiếu. Chương 5 - Kết luận và hàm ý chính sách. Chương này sẽ trình bày các kết luận nhằm trả lời cho những câu hỏi đã đặt ra, từ đó nêu lên hàm ý chính sách và các kiến nghị cho nhà đầu tư.
Đồng thời, những hạn chế của đề tài sẽ được đề cập và sau cùng là phần gợi ý cho hướng nghiên cứu tiếp theo. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VỀ TÁC ĐỘNG CỦA YẾU TỐ MOMENT BẬC CAO ĐẾN LỢI NHUẬN CỔ PHIẾU Cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài sẽ được trình bày trong chương này như lý thuyết nền tảng danh mục đầu tư Markowitz, đây là cơ sở hình thành lý thuyết thị trường vốn và mô hình định giá tài sản vốn CAPM. Tiếp theo là phần tổng hợp và đánh giá các công trình nghiên cứu trước đó ở cả Việt Nam và nước ngoài về sự ảnh hưởng các nhân tố momnet bậc cao đến lợi nhuận cổ phiếu. Từ đó, luận văn sẽ đưa ra các giả thuyết nghiên cứu làm cơ sở để phát triển các mô hình nghiên cứu được trình bày chương 3.
Lý thuyết thị trường vốn và mô hình CAPM 2. Lý thuyết danh mục đầu tư Markowitz Xuất phát từ vấn đề quản lý danh mục đầu tư, một vấn đề đặt ra là làm thế nào để quản lý danh mục đầu tư một cách tối ưu nhất? Dựa trên nền tảng lý thuyết về lợi nhuận và rủi ro kết hợp sử dụng phương pháp thống kê cùng với hàng loạt các thuật toán ma trận thì Harry Markowitz cho ra đời Lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại (Lý thuyết danh mục đầu tư) được công bố vào năm 1952 trên tạp chí tài chính. Theo đó, Markowitz đã phát hiện việc kết hợp các danh mục cổ phiếu rủi ro sẽ tạo thành một danh mục ít rủi ro hơn là để riêng cổ phiếu riêng lẻ, đồng thời ông cũng khẳng định tầm quan trọng của việc phải đa dạng hóa đầu tư để giảm tổng rủi ro cho danh mục.1: Đường biên hiệu quả Đường biên E(Rp) hiệu quả 𝝈𝑷 Nguồn: Markowitz (1952). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Markowitz đã chỉ ra rằng tập hợp các danh mục tài sản có lợi nhuận kỳ vọng cao nhất ứng với mỗi mức rủi ro sẽ hình thành đường biên hiệu quả (Xem hình 2.
Mỗi nhà đầu tư đều mong muốn với một mức rủi ro bất kỳ thì danh mục đầu tư luôn mang lại tỷ suất sinh lợi cao nhất có thể, và thông thường những danh mục nằm trên đường biên hiệu quả sẽ được ưu tiên lựa chọn hơn là những tài sản riêng lẻ hoặc danh mục nằm dưới đường biên hiệu quả. Lý thuyết thị trường vốn và mô hình CAPM Dựa trên nền tảng lý thuyết của Markowitz (1952) thì Sharpe (1964), Lintner (1965) và Mossin (1966) đã giới thiệu các nghiên cứu về lý thuyết thị trường vốn, đánh dấu sự ra đời của lý thuyết định giá tài sản và là cơ sở hình thành mô hình định giá tài sản vốn CAPM. Áp dụng lý thuyết Markowitz, xây dựng một danh mục đầu tư gồm tài sản phi rủi ro và danh mục thị trường M sẽ tạo nên đường thị trường vốn CML. Mọi nhà đầu tư sẽ chọn danh mục tối ưu nằm trên đường CML được tạo ra bằng cách kết hợp tài sản phi rủi ro với danh mục mục thị trường M.2: Đường thị trường vốn CML E(Rp) CML M Đường biên E(RM) hiệu quả Rf 𝝈𝑴 𝝈𝑷 Nguồn: Bodie và cộng sự (2011).
Phương trình đường CML có thể được viết như sau: 𝐸 (𝑅𝑀 ) − 𝑅𝑓 𝐸 (𝑅𝑃 ) = 𝑅𝑓 +. 𝜎𝑃 𝜎𝑀 Trong đó: E(RP) suất sinh danh mục P LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Rf suất sinh lời tài sản phi rủi ro 𝐸 (𝑅𝑀 ) − 𝑅𝑓 mức bù rủi ro của thị trường 𝜎𝑃 độ lệch chuẩn của danh mục P 𝜎𝑀 độ lệch chuẩn của danh mục thị trường 𝑐𝑜𝑣(𝑅𝑖, 𝑅𝑀 ) Đặt 𝛽𝑖 = 2 thì beta chính là thước đo rủi ro hệ thống của chứng khoán 𝜎𝑀 trong tương quan với danh mục thị trường. Danh mục thị trường có beta bằng một, do đó nếu một chứng khoán có beta lớn hơn 1 thì chứng khoán này có rủi ro hệ thống lớn hơn thị trường. Cụ thể, hệ số beta một chứng khoán bằng 1.2 cho biết lợi nhuận cổ phiếu biến động gấp 1.2 lần lợi nhuận thị trường, hàm ý khi nền kinh tế thuận lợi thì lợi nhuận cổ phiếu tăng nhanh hơn lợi nhuận thị trường, nhưng khi nền kinh tế bất lợi thì lợi nhuận cổ phiếu giảm nhanh hơn lợi nhuận thị trường.
Phương trình đường CML được viết lại: 𝐸 (𝑅𝑖 ) = 𝑅𝑓 + 𝛽𝑖. [𝐸 (𝑅𝑀 ) − 𝑅𝑓 ] Đây chính là mô hình CAPM nhằm mô tả mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng của một chứng khoán và nó được biểu thị qua đường thị trường chứng khoán – SML. Mô hình CAPM thực tế là một trường hợp của lý thuyết thị trường vốn khi thay thế một danh mục bởi một chứng khoán bất kỳ. Khi chứng khoán này tham gia vào danh mục đầu tư thì chúng có mối tương quan với nhau để triệt tiêu rủi ro cá biệt và chỉ còn lại rủi ro hệ thống được đo lường bằng hiệp phương sai của chứng khoán đó với danh mục thị trường.3: Đường thị trường chứng khoán SML E(R) SML E(Ri) Độ dốc của SML RM M là phần bù rủi ro Rf 1 𝛽𝑖 β Beta âm Nguồn: Bodie và cộng sự (2011).
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 SML thể hiện lợi nhuận của một chứng khoán có được để bù đắp phần rủi ro mà nhà đầu tư chấp nhận đầu tư vào một chứng khoán rủi ro. Ở trạng thái cân bằng, những chứng khoán được định giá hợp lý đều nằm trên đường SML, các chứng khoán nằm bên dưới hoặc bên trên đường SML biểu thị tình trạng giá phản ánh chưa đúng thực tế khi cân bằng.4: Chứng khoán được định giá thấp và cao E(R) B (Định giá thấp) SML A E(RA) C (Định giá cao) Rf 𝛽𝐴 β Nguồn: Bodie và cộng sự (2011). Cụ thể, những chứng khoán bị định giá thấp sẽ nằm phía trên đường SML, những chứng khoán này có lợi nhuận thực tế cao hơn lợi nhuận kỳ vọng. Ngược lại, những chứng khoán định giá cao sẽ nằm phía dưới đường SML, với những chứng khoán này có tỷ suất sinh lời thực tế thấp hơn tỷ suất sinh lời theo yêu cầu của mô hình định giá tài sản vốn.
Chênh lệch giữa tỷ suất lợi nhuận thực tế và tỷ suất lợi nhuận hợp lý theo mô hình định giá tài sản vốn được đo bởi giá trị anpha. Những chứng khoán được định giá thấp sẽ có giá trị anpha dương. Những chứng khoán này được kỳ vọng sẽ tăng giá trong tương lai được khuyến nghị nên mua vào và nắm giữ trong danh mục đầu tư. Ngược lại, những chứng khoán được định giá cao sẽ có giá trị anpha âm.
Giá của những chứng khoán này sẽ giảm trong tương lai. Mô hình CAPM ra đời được coi là cốt lõi của lý thuyết đầu tư hiện đại, cho tới nay CAPM vẫn là mô hình được được nhà đầu tư cũng như các công ty quản lý quỹ lựa chọn để định giá cổ phiếu. Ưu điểm của mô hình là đơn giản và có thể ứng dụng được trên thực tế như: xác định giá trị hợp lý của tài sản rủi ro phục vụ định giá chứng khoán, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 ước lượng suất sinh lời kỳ vọng chứng khoán, hoặc mức độ rủi ro của danh mục đầu tư…. Tuy nhiên, cũng như các mô hình khác thì CAPM cũng có nhiều hạn chế và tranh luận bởi các nhà nghiên cứu khác nhau.
Các lý thuyết này xem xét việc đánh giá khoản mục đầu tư dựa trên lợi nhuận kỳ vọng (mean) và rủi ro (variance) với các giả định phân phối chuẩn. Thực tế, đa số các tài sản đều có phân phối lệch trái hoặc lệch phải, cũng có thể gù hoặc nhọn, Kraus và Litzenberger (1976) đã kiểm định mô hình CAPM đối với sự bất đối xứng và khẳng định các cổ phiếu lệch phải sẽ có cơ hội được hưởng tỷ suất sinh lời rất lớn. Các yếu tố moment bậc cao trong định giá tài sản 2. Hiểu về skewness và kurtosis Thuyết danh mục đầu tư của Markowitz (1952) và mô hình CAPM giả định lợi nhuận của tài sản được phân bổ theo phân phối chuẩn tuyệt đối, nghĩa là chỉ xem xét yếu tố gái trị trung bình và phương sai.
Do đó, đường cong của phân phối một tài sản có hình dạng chuông đối xứng.