Luận án hiệu quả mô hình sản xuất thức ăn bổ sung đến an ninh thực phẩm hộ gia đình và tình trạng dinh dưỡng trẻ dưới 24 tháng tuổi tại một số tỉnh miền núi phía bắc

Tài liệu Tác động của mô hình sản xuất thức ăn bổ sung đến an ninh thực phẩm và tổng hợp lý thuyết và thực hành, phục vụ học tập ngành

Trường đại học

Trường Đại học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Dinh dưỡng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

190
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG Ở TRẺ DƯỚI 24 THÁNG TUỔI

1.2. Thực trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em

1.3. Nguyên nhân suy dinh dưỡng

1.4. Giải pháp phòng chống suy dinh dưỡng ở trẻ em

1.5. AN NINH THỰC PHẨM HỘ GIA ĐÌNH

1.5.1. Các cấp độ của an ninh thực phẩm

1.5.2. Các thành tố của an ninh thực phẩm

1.5.3. Các phương pháp đánh giá an ninh thực phẩm hộ gia đình

1.5.4. Thực trạng an ninh thực phẩm hộ gia đình

1.5.5. Một số mô hình cải thiện an ninh thực phẩm hộ gia đình

1.6. TIẾP THỊ XÃ HỘI VÀ ÁP DỤNG TRONG CAN THIỆP SỨC KHỎE

1.6.1. Đặc điểm của tiếp thị xã hội

1.6.2. Nguyên tắc và thành phần của tiếp thị xã hội

1.6.3. Một số chương trình tiếp thị xã hội phòng chống suy dinh dưỡng

1.7. GIỚI THIỆU MÔ HÌNH CAN THIỆP

1.7.1. Tên mô hình

1.7.2. Tổ chức thực hiện

1.7.3. Kết quả của mô hình

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

2.1.1. Thời gian nghiên cứu

2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu

2.2.2. Phương pháp chọn mẫu

2.2.3. Các số liệu và thời điểm thu thập

2.2.4. Phương pháp và công cụ thu thập thông tin

2.2.5. Biến số, chỉ số nghiên cứu

2.3. SAI SỐ VÀ PHƯƠNG PHÁP HẠN CHẾ SAI SỐ

2.3.1. Sai số hệ thống

2.3.2. Sai số ngẫu nhiên

2.4. XỬ LÝ VÀ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU

2.5. ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG Ở TRẺ DƯỚI 24 THÁNG TUỔI

3.1.1. Tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 24 tháng tuổi tại 3 tỉnh

3.1.2. Thực hành nuôi con của các bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi

3.1.3. Tình trạng an ninh thực phẩm hộ gia đình có trẻ dưới 24 tháng tuổi

3.1.4. Một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng ở trẻ

3.2. KẾT QUẢ TRIỂN KHAI CAN THIỆP

3.2.1. CẢI THIỆN AN NINH THỰC PHẨM HỘ GIA ĐÌNH

3.2.1.1. Cải thiện tình trạng thiếu thực phẩm tại hộ gia đình
3.2.1.2. Cải thiện khả năng tiếp cận thực phẩm của hộ gia đình
3.2.1.3. Cải thiện an ninh thực phẩm hộ gia đình theo điểm
3.2.1.4. Cải thiện an ninh thực phẩm hộ gia đình theo mức độ

3.2.2. CẢI THIỆN TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG Ở TRẺ

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Tình trạng dinh dưỡng ở trẻ dưới 24 tháng tuổi

4.1.1. Thực hành nuôi dưỡng, chăm sóc con của các bà mẹ

4.1.2. An ninh thực phẩm hộ gia đình năm 2016

4.1.3. Liên quan đến suy dinh dưỡng ở trẻ dưới 24 tháng tuổi

4.2. KẾT QUẢ TRIỂN KHAI MÔ HÌNH CAN THIỆP

4.2.1. CẢI THIỆN AN NINH THỰC PHẨM HỘ GIA ĐÌNH

4.2.1.1. Cải thiện tình trạng thiếu thực phẩm tại hộ gia đình
4.2.1.2. Cải thiện khả năng tiếp cận thực phẩm của hộ gia đình

4.2.2. CẢI THIỆN SUY DINH DƯỠNG Ở TRẺ DƯỚI 24 THÁNG TUỔI

4.2.2.1. Cải thiện suy dinh dưỡng thể nhẹ cân
4.2.2.2. Cải thiện suy dinh dưỡng thể thấp còi
4.2.2.3. Tình trạng dinh dưỡng và yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng

4.2.3. An ninh thực phẩm hộ gia đình tại địa bàn nghiên cứu năm 2016

4.2.4. Cải thiện tình trạng dinh dưỡng ở trẻ dưới 24 tháng tuổi

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

Tóm tắt

I. Tình trạng dinh dưỡng ở trẻ dưới 24 tháng tuổi

Tình trạng dinh dưỡng ở trẻ dưới 24 tháng tuổi là một vấn đề quan trọng, phản ánh sự phát triển thể chất và trí tuệ của trẻ. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), suy dinh dưỡng ở trẻ em được phân loại thành ba thể: thể nhẹ cân, thể thấp còi và thể gầy còm. Tình trạng này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe hiện tại mà còn có tác động lâu dài đến sự phát triển trong tương lai. Tại Việt Nam, tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ dưới 24 tháng tuổi vẫn còn cao, đặc biệt ở các vùng miền núi phía Bắc. Theo thống kê, tỷ lệ trẻ em bị suy dinh dưỡng thể thấp còi ở khu vực này có thể lên đến 30%. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng này là do thiếu hụt dinh dưỡng, thiếu an ninh thực phẩm hộ gia đình và điều kiện sống không đảm bảo. Việc cải thiện tình trạng dinh dưỡng cho trẻ em dưới 24 tháng tuổi là một nhiệm vụ cấp bách, cần có sự can thiệp kịp thời từ các chương trình dinh dưỡng và an ninh thực phẩm.

1.1. Thực trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em

Suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 24 tháng tuổi là một vấn đề nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển của trẻ. Theo báo cáo của WHO, tỷ lệ trẻ em bị suy dinh dưỡng thể thấp còi trên toàn cầu vẫn ở mức cao, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Tại Việt Nam, tỷ lệ này cũng không ngoại lệ, với nhiều trẻ em sống ở vùng sâu, vùng xa, nơi điều kiện kinh tế khó khăn. Suy dinh dưỡng không chỉ gây ra các vấn đề sức khỏe ngay lập tức mà còn có thể dẫn đến các vấn đề nghiêm trọng trong tương lai, như giảm khả năng học tập và làm việc. Để giải quyết vấn đề này, cần có các giải pháp đồng bộ từ chính sách đến thực tiễn, bao gồm việc cải thiện an ninh thực phẩm và nâng cao nhận thức về dinh dưỡng cho các bậc phụ huynh.

II. An ninh thực phẩm hộ gia đình

An ninh thực phẩm hộ gia đình là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ em. Theo định nghĩa của FAO, an ninh thực phẩm được hiểu là khả năng tiếp cận đủ thực phẩm an toàn và dinh dưỡng để duy trì một cuộc sống khỏe mạnh. Tại miền núi phía Bắc, nhiều hộ gia đình vẫn gặp khó khăn trong việc đảm bảo an ninh thực phẩm, dẫn đến tình trạng thiếu hụt dinh dưỡng cho trẻ em. Các yếu tố như nghèo đói, thiếu kiến thức về dinh dưỡng và điều kiện sản xuất nông nghiệp kém phát triển là những nguyên nhân chính gây ra tình trạng này. Việc cải thiện an ninh thực phẩm không chỉ giúp nâng cao sức khỏe cho trẻ em mà còn góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Các chương trình can thiệp cần được triển khai để hỗ trợ các hộ gia đình trong việc sản xuất và tiếp cận thực phẩm bổ sung.

2.1. Các cấp độ của an ninh thực phẩm

An ninh thực phẩm có thể được phân loại thành nhiều cấp độ khác nhau, từ an ninh thực phẩm hoàn toàn đến tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng. Ở cấp độ cao nhất, hộ gia đình có đủ thực phẩm an toàn và dinh dưỡng để đáp ứng nhu cầu hàng ngày. Tuy nhiên, ở nhiều hộ gia đình tại miền núi phía Bắc, tình trạng thiếu hụt thực phẩm vẫn diễn ra phổ biến. Theo thống kê, khoảng 30% hộ gia đình không đảm bảo an ninh thực phẩm, dẫn đến tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em. Việc đánh giá và cải thiện an ninh thực phẩm là cần thiết để đảm bảo sức khỏe cho trẻ em và phát triển bền vững cho cộng đồng.

III. Tác động của mô hình sản xuất thức ăn bổ sung

Mô hình sản xuất thức ăn bổ sung đã được triển khai tại một số tỉnh miền núi phía Bắc nhằm cải thiện tình trạng dinh dưỡng cho trẻ em dưới 24 tháng tuổi. Mô hình này không chỉ cung cấp thực phẩm bổ sung mà còn nâng cao nhận thức về dinh dưỡng cho các bậc phụ huynh. Kết quả cho thấy, sau khi áp dụng mô hình, tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em đã giảm đáng kể. Cụ thể, tỷ lệ trẻ em bị suy dinh dưỡng thể thấp còi giảm từ 30% xuống còn 20% trong vòng một năm. Điều này cho thấy sự cần thiết của việc áp dụng các mô hình sản xuất thực phẩm bổ sung trong việc cải thiện an ninh thực phẩm và tình trạng dinh dưỡng cho trẻ em. Các chương trình can thiệp cần được mở rộng và duy trì để đảm bảo hiệu quả lâu dài.

3.1. Kết quả của mô hình

Kết quả từ mô hình sản xuất thức ăn bổ sung cho thấy sự cải thiện rõ rệt trong tình trạng dinh dưỡng của trẻ em. Các hộ gia đình tham gia mô hình đã có khả năng tiếp cận thực phẩm bổ sung dễ dàng hơn, từ đó nâng cao chất lượng dinh dưỡng cho trẻ. Ngoài ra, mô hình cũng giúp nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của dinh dưỡng trong giai đoạn đầu đời. Việc áp dụng mô hình này không chỉ giúp cải thiện tình trạng dinh dưỡng mà còn góp phần nâng cao an ninh thực phẩm hộ gia đình, từ đó tạo ra một môi trường sống tốt hơn cho trẻ em.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG Ở TRẺ DƯỚI 24 THÁNG TUỔI 1. Khái niệm Tình trạng dinh dưỡng là tập hợp các đặc điểm về chức phận, cấu trúc sinh hóa, phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể [14]. Ở tất cả các lứa tuổi, đặc biệt là ở trẻ dưới 24 tháng tuổi, tình trạng dinh dưỡng phản ánh rõ và chính xác nhất về mức độ đảm bảo đầy đủ và hợp lý về chất dinh dưỡng thông qua thức ăn của gia đình trẻ.

Ngoài ra tình trạng dinh dưỡng còn phản ánh khả năng chăm sóc sức khoẻ, y tế, trình độ dân trí, điều kiện giáo dục… và sự phát triển của kinh tế - xã hội [14],[15]. Suy dinh dưỡng (SDD) là khi trẻ có cân nặng, chiều cao thấp hơn so với cân nặng và chiều cao trung bình ở quần thể tham khảo. Ở cộng đồng SDD trẻ em được chia thành 3 thể: SDD thể nhẹ cân (đánh giá dựa vào z- score cân nặng theo tuổi WAZ); SDD thể thấp còi (thể nhẹ cân (đánh giá dựa vào z-score chiều dài nằm theo tuổi - HAZ); và SDD thể gầy còm (thể nhẹ cân (đánh giá dựa vào z-score cân nặng theo chiều dài nằm - WHZ) [14],[16]. Phân loại ý nghĩa sức khỏe cộng đồng của suy dinh dưỡng theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO).

Thể thấp còi dưới 2,5% rất thấp; từ 2,5-10% mức độ thấp; từ 10-20% mức độ trung bình; từ 20-30% mức độ cao; ≥ 30% mức độ rất cao. Thể gầy còm < 2,5% rất thấp; từ 2,5-5% thấp; từ 5-10% mức độ trung bình; từ 10-15% mức độ cao; ≥ 15% mức độ rất cao [17]. Thực trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em 1. Trên thế giới Trong 20 năm trở lại đây, tỉ lệ SDD trẻ em, đặc biệt là trẻ dưới 24 tháng tuổi trên toàn thế giới đã giảm đáng kể, SDD thể thấp còi giảm 10,1%, từ 33,1% năm 2000 xuống còn 22,0% năm 2020 [3].

Tuy nhiên tỉ lệ SDD trẻ em vẫn ở mức cao, có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng, nhất là ở các nước đang phát triển [18],[19],[20]. Tỉ lệ trẻ em bị suy dinh dưỡng thể gầy còm trên thế giới giai đoạn 2010-2020 (nguồn: who. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO)-2021 cho thấy, tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị SDD thể thấp còi là 21,3% (khoảng 149,2 triệu trẻ); SDD thể gầy còm là 6,9% (khoảng 45,4 triệu trẻ). Tại châu Phi, tỉ lệ SDD thể thấp còi là 30,7% thấp hơn 10,8% so với năm 2000 là 41,5%.

Các nước Guinea, Ethiopia, Cameroon, Cộng hòa Công gô, Trung Phi là những nước có tỉ lệ SDD thể thấp còi và gầy còm cao lần lượt là 29,4% và 5,7%; 35,3% và 7,2%; 27,2% và 4,3%; 40,8% và 6,4%; 40,1% và 5,2% [18]. 7 Châu Á là khu vực có số trẻ em dưới 5 tuổi bị SDD cao nhất thế giới với 42,2 triệu trẻ. Tỉ lệ SDD thể thấp còi chung cho cả khu vực là 21,8% và thể gầy còm là 8,9%. Khu vực Nam Á có tỉ lệ SDD thể thấp còi và gầy còm trẻ dưới 2 tuổi cao nhất, lần lượt là 30,7% và 14,1%; tỉ lệ này ở khu vực Đông Nam Á lần lượt là 27,4% và 8,2%.

Các quốc gia trong khu vực như Bangladesh, Ấn Độ, Myanmar, Malaysia, Indonexia, Lào, Campuchia và Việt Nam là những nước có tỉ lệ trẻ em bị SDD cao [18]. Tỉ lệ trẻ em bị SDD thể thấp còi và gầy còm tại Bangladesh (2020) là 30,2% và 9,8% (2019); tại Malaysia (2020) là 20,9% và 9,7% (2019); tại Indonexia là 31,8% và 10,2%; tại Lào là (2020) 30,2% và 9,0% (2017); và tại Camphuchia (2020) là 29,9% và 9,7% (2014) [18]. Mặc dù tỉ lệ SDD thể thấp còi có chiềuhướng giảm ở tất cả các nước trên thế giới nhưng nó vẫn chiếm tỉ lệ cao có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng, đặc biệt là ở các nước nghèo, chậm phát triển và ở những chủng tộc ít người. Ở trẻ em, SDD thể thấp còi luôn có xu hướng tăng dần theo tuổi của trẻ.

Suy dinh dưỡng bắt đầu phổ biến khi trẻ được 6 tháng tuổi, tỉ lệ SDD tăng dần theo thời gian, cao nhất ở giai đoạn trẻ từ 12-35 tháng tuổi, và tiếp tục duy trì mức độ cao ở các nhóm tuổi tiếp sau đó [21]. Diễn biến chỉ số Z-scores ở trẻ 1 đến 59 tháng tuổi trên thế giới. Chỉ số z-score chiều cao theo tuổi (HAZ) theo chuẩn WHO bắt đầu giảm từ tháng tuổi thứ 5, giảm nhanh từ tháng thứ 10 sau sinh, tăng nhẹ sau 24 tháng, duy trì mức thấp của những tháng tiếp theo [7],[20],[22]. Ở hầu hết các vùng trên thế giới, z-score trung bình chiều cao theo tuổi của trẻ 24 tháng tuổi có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với quần thể tham khảo.

Các can thiệp nhằm cải thiện cân nặng và chiều cao của trẻ đặc biệt chú trọng vào giai đoạn từ khi sinh đến 24 tháng tuổi [9],[27]. Trong cùng lứa tuổi, tỉ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi ở trẻ trai thường cao hơn ở trẻ gái, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) [23] [24]. Tại Việt Nam Ở nước ta, trong 20 năm trở lại đây tỉ lệ SDD ở trẻ em nói chung có mức độ giảm rõ rệt.2 5 0 200020012002200320042005200620072008200920102011201220132014 201520162019 Năm Nhẹ cân Thấp còi Gầy còm Hình 1. Diễn biến suy dinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi tại Việt Nam (nguồn: Viện Dinh dưỡng) 9 SDD thể nhẹ cân giảm 21,6%, giảm từ 33,8% năm 2000 xuống còn 12,2% năm 2016, thể thấp còi giảm 19,6%, giảm từ 36,5% năm 2000 xuống còn 19,6% năm 2019.

Cho dù tỉ lệ SDD ở trẻ có giảm, tuy nhiên tỉ lệ này vẫn còn cao và có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng theo tiêu chuẩn đánh giá của WHO [25] [4]. Tỉ lệ SDD ở trẻ có sự khác biệt giữa tuổi, giới tính, dân tộc, nơi ở sinh sống và giữa các vùng sinh thái [26].8 5 0 Nhẹ cân Thấp còi Gầy còm Thể suy dinh dưỡng Trẻ trai Trẻ gái Thành thị Nông thôn Hình 1. Tỉ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi theo giới và nơi ở (Nguồn niêm giám thống kê-2019) Số liệu Niên giám thống kê năm 2019 cho thấy, tỉ lệ SDD thể thấp còi cao nhất là ở vùng Tây Nguyên với 29,8% tiếp đến là vùng Trung du và miến núi phía Bắc 27,1%; vùng Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung 24,8%; Đồng bằng song Cửu Long 21,2%. Các tỉnh có tỉ lệ trẻ thấp còi cao là Bạc Liêu 23,6%, Kon Tum 33,4%, Gia Lai 32,0%, Quảng Bình 27,9%, Sơn La 30,9%, Cao Bằng 30,4%, Hà Giang 31,7%, Lào Cai 31,0% và Lai Châu là 32,1% [26].

10 Tỉ lệ SDD thể thấp còi cũng có sự khác biệt rõ ràng ở trẻ người Kinh với trẻ người dân tộc thiểu số, cụ thể: trẻ người Kinh 23,3%, Nùng 38,5%, Dao 46,2%, Thái 46%, H’Mông 55,1% [27], Vân Kiều 67,1% [28], Pakor 66,5% trẻ dưới 5 tuổi, nhóm 12-17 tháng tuổi là 53,3% và nhóm 18-23 tháng tuổi là 64,2% [29]. Kết quả nghiên cứu của Phan Thị Bích Hồng (2019) ở trẻ dưới 5 tuổi dân tộc Mông tại Hà Giang cho thấy tỉ lệ SDD thể nhẹ cân 24,1%; thấp còi 45,1%; gầy còm 8,2%. Tỉ lệ SDD thể thấp còi mức độ vừa là 25,7%, mức độ nặng là 19,4%. Tỉ lệ trẻ bị SDD có xu hướng tăng theo tuổi ở nhóm dưới 12 tháng tuổi là 39,1%, nhóm từ 12-23 tháng là 32,0%; từ 24-35 tháng là 42,3%; 36-47 tháng là 50,3%; 48-59 tháng là 62,8%.

Các yếu tố có liên quan đến SDD thể thấp còi ở trẻ có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) đó là trình độ học vấn của người mẹ (dưới lớp 10 và trên lớp 10), tình trạng kinh tế của hộ gia đình (nghèo và không nghèo), số con của mẹ trong gia đình, thời điểm cho trẻ bú sau đẻ, và tình trạng mắc bệnh của trẻ [30]. Nghiên cứu của Trần Thị Lan (2013) tại Quảng Trị, một tỉnh miền núi trung Trung bộ cho thấy tỉ lệ SDD thấp còi ở trẻ 12 - 36 tháng tuổi là 66,5% [29]. Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Hà tại Bắc Ninh thuộc vùng đồng bằng Bắc bộ năm 2007 chỉ là 34,4% cũng cho thấy sự khác biệt về tỉ lệ thấp còi giữa hai vùng miền này. Điều này được lý giải bởi sự bất cập trong việc tiếp cận dịch vụ y tế, trình độ dân trí và khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn giữa khu vực nông thôn, miền núi so với các thành phố lớn và các khu đô thị.

Tỉ lệ SDD giảm, nhưng vẫn còn cao tại các vùng núi, nông thôn trong khi tại các thành phố, khu đô thị có xu hướng tăng tỉ lệ trẻ thừa cân béo phì [29]. Theo nhóm tuổi, kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ SDD nhẹ cân tăng lên lúc trẻ 12 tháng tuổi, duy trì đều ở các tháng tuổi sau đó, trong khi đó tỉ lệ 11 SDD thấp còi của trẻ tăng dần theo độ tuổi, tăng nhanh từ lúc trẻ 12 tháng tuổi và cao nhất ở trẻ từ 12-36 tháng tuổi, đặc biệt ở độ tuổi 24-36 tháng [31].7 5 0 0-5 12-Jun 13 - 17 18 - 23 24 - 29 30 - 35 36 - 41 42 - 47 48 - 53 54 - 59 Tháng tuổi Nhẹ cân Thấp còi Hình 1. Tỉ lệ suy dinh dưỡng theo nhóm tuổi (Viện Dinh dưỡng-2011) Một số nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng tỉ lệ SDD thấp còi ở nhóm trẻ dưới 6 tháng là thấp nhất, sau đó tăng nhanh vào thời kỳ trẻ 6-23 tháng. Nguyên nhân giai đoạn này trẻ có nguy cơ bị SDD cao hơn vì đây là thời điểm cai sữa cho trẻ, ăn bổ sung, có nhiều ảnh hưởng đến lượng thức ăn của trẻ và đồng thời trẻ có nhu cầu dinh dưỡng rất cao.

Khả năng miễn dịch tự nhiên giảm, dễ mắc các bệnh truyền nhiễm hơn và mẹ bắt đầu đi làm cũng là những lý do dẫn đến tỉ lệ SDD tại nhóm 6-23 tháng tuổi cao. Trẻ bị SDD thấp còi ở lứa tuổi này sẽ làm giảm quá trình tăng trưởng về chiều cao ở giai đoạn tiếp theo. Vì vậy, các nghiên cứu can thiệp dinh dưỡng cần tập trung tác động vào giai đoạn 1000 ngày vàng đầu đời (đặc biệt trẻ từ 6-23 tháng tuổi) [32]. Thiếu vi chất dinh dưỡng (VCDD) đặc biệt là thiếu máu và thiếu kẽm có liên quan chặt chẽ với SDD thấp còi.

Nhiều nghiên cứu đã chứng minh, chậm phát triển sau khi sinh có liên quan chủ yếu tới sự thiếu hụt dinh dưỡng, trong 12 đó quan trọng nhất là các thiếu hụt liên quan tới thiếu năng lượng, protein và các vi chất dinh dưỡng như sắt, kẽm và các vitamin D, A, C. Kẽm có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của hệ tiêu hóa và tăng cường quá trình chuyển hóa, giúp cải thiện chiều cao của trẻ thấp còi.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Nghiên cứu tác động của mô hình sản xuất thức ăn bổ sung đến an ninh thực phẩm và tình trạng dinh dưỡng trẻ em dưới 24 tháng tuổi tại miền núi phía Bắc" của tác giả Lê Thế Trung, dưới sự hướng dẫn của PGS. Phạm Văn Phú và PGS. Nguyễn Đỗ Huy, tập trung vào việc phân tích ảnh hưởng của các mô hình sản xuất thức ăn bổ sung đến an ninh thực phẩm và tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 24 tháng tuổi tại khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình trạng dinh dưỡng của trẻ em mà còn đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện an ninh thực phẩm trong bối cảnh hiện tại.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến dinh dưỡng và sản xuất nông nghiệp, bạn có thể tham khảo bài viết "Giải pháp tiếp tục xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu tại thị xã Đông Triều, Quảng Ninh", nơi đề cập đến các giải pháp phát triển nông thôn có thể ảnh hưởng đến an ninh thực phẩm. Ngoài ra, bài viết "Nghiên cứu đặc tính và hiệu quả của virus nucleopolyhedrosis trên sâu Spodoptera tại Đồng bằng sông Cửu Long" cũng có thể cung cấp thêm thông tin về các biện pháp bảo vệ cây trồng, từ đó ảnh hưởng đến nguồn thực phẩm. Cuối cùng, bài viết "Phát Triển Chăn Nuôi Lợn An Toàn Thực Phẩm Tại Tỉnh Bắc Ninh" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các phương pháp chăn nuôi an toàn, góp phần vào việc cải thiện chất lượng thực phẩm cho trẻ em.

Những tài liệu này không chỉ bổ sung cho nghiên cứu của bạn mà còn mở ra nhiều khía cạnh mới trong lĩnh vực dinh dưỡng và an ninh thực phẩm.