CHƯƠNG 1. Vấn đề và phạm vi nghiên cứu: Theo thời gian thì lạm phát làm gia tăng mức giá chung của nền kinh tế. Lạm phát thể hiện sự giảm sút sức mua của một đơn vị tiền tệ do mức giá chung tăng cao, lượng hàng hóa và dịch vụ có thể mua được bằng một đơn vị tiền tệ giảm hơn so với trước đây. Lạm phát có thể ảnh hưởng theo hướng tích cực hoặc tiêu cực đến nền kinh tế.
Lạm phát gây ra ảnh hưởng tiêu cực do không xác định chắc chắn được kỳ vọng lạm phát trong tương lai và tăng chi phí cơ hội của việc giữ tiền dẫn đến quyết định tiết kiệm và đầu tư giảm.Ngoài ra, nếu lạm phát tăng làm cho người tiêu dùng lo lắng giá cả hàng hóa, dịch vụ tăng cao trong thời gian tới do sự thiếu hụt hàng hóa. Lạm phát cũng mang lại những tác động tích cực dựa trên giá cả cứng nhắc làm giảm tỷ lệ thất nghiệp. Do đó, việc lạm phát tác động đối với nền kinh tế luôn là đề tài nóng bỏng đối với các nhà nghiên cứu. Dựa vào các nghiên cứu gần đây thì có mối quan hệ giữ lạm phát và độ nhạy cảm của đầu tư đối với quyết định đầu tư.
Friedman (1977) nói rằng lạm phát gây ra độ nhiễu trong nội dung dữ liệu thể hiện ở giá cả. Theo Modigliani và Cohn (1979) thì các nhà đầu tư bị "lạm phát ảo tưởng" và không kết hợp tác động của lạm phát trong dự báo của họ, do đó gây ra định giá sai cổ phần. Ball và Romer (2003) cho rằng khi lạm phát khiến giá cả tương đối thay đổi, nó làm giảm thông tin về giá cả tương lai trong giá hiện hành. Do đó, giá hiện tại trở nên ít thông tin hơn.
Foucault và Frésard (2012) cho rằng độ nhạy đầu tư tăng lên khi giá cổ phiếu tăng do lượng thông tin phản ánh trong giá cổ phiếu tăng. Trong một nghiên cứu khác, Farooq và Amin (2017) cũng ghi nhận trường hợp tương tự rằng khi lạm phát tăng cao, các nhà đầu tư ít có thông tin về giá cổ phiếu, những nhà quản trị sẽ ít sử dụng giá cổ phiếu để lựa chọn các quyết định đầu tư. Dẫn đến việc giảm độ nhạy cảm của đầu tư với giá cổ phiếu tại các quốc gia có tình trạng lạm phát tăng cao. Sự LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 nhạy cảm của đầu tư với giá cổ phiếu tăng lên khi tính thông tin của giá cổ phiếu tăng.
Việt Nam là quốc gia đang phát triển. Do đó, phụ thuộc nhiều bởi các nền kinh tế trên thế giới. Từ năm 2008 - 2012, lạm phát ở Việt Nam tăng cao do tác động của khủng hoảng kinh tế trên thế giới. Trong khoảng từ năm 2013 - 2018, tình trạng lạm phát ở mức thấp và ổn định khi không có các cú sốc lớn như biến động tỷ giá lãi suất, giá dầu thô trên thị trường quốc tế tăng và yêu cầu thực hiện giá thị trường đối với giá điện, dịch vụ y tế… Tình trạng lạm phát nhiều biến động ảnh hưởngđến những quyết định đầu tư.
Việt Nam có thị trường mới nổi, đang thực hiện đẩy mạnh việc mở cửa, hội nhập quốc tế, gia nhập WTO dẫn đến nhiều cơ hội cho các công ty phát triển và tăng trưởng. Vì vậy, việc hiểu rõ ảnh hưởng của lạm phát với độ nhạy cảm của đầu tư với giá cổ phiếu của các công ty tại Việt Nam là rất quan trọng; khiến cho các nhà quản trị có một cái nhìn rõ ràng hơn về lạm phát, để đưa ra những giải pháp hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư, phát triển. Ngoài ra, cũng giúp các doanh nghiệp có cái nhìn tổng quan về dữ liệu mà giá chứng khoán thể hiện trong thời gian qua, từ đó thực hiện quyết định đầu tư. Đề tài “Tác động của lạm phát đến độ nhạy cảm của hoạt động đầu tư đối với giá cổ phiếu tại thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2009 – 2018”.
Bài viết tìm hiểu mối quan hệ của lạm phát và độ nhạy cảm của đầu tư với giá cổ phiếu tại TTCK Việt Nam thông qua việc dữ liệu của 121 CTCP tại HNX và HOSE giai đoạn 2009 – 2018. Mục tiêu nghiên cứu: Trên cơ sở bài viết của Farooq và Ahmed (2017), mục tiêu của bài viết: Phân tích mối quan hệ giữa lạm phát và độ nhạy cảm của hoạt động đầu tư đối với giá cổ phiếu của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam. Bài viết sẽ trả lời được các nội dung sau: - Mối quan hệ giữa lạm phát và độ nhạy cảm của hoạt động đầu tư đối với giá cổ phiếu tại TTCK Việt Nam giai đoạn từ năm 2009 đến 2018 ra sao? LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 - Ngoài yếu tố lạm phát, có các yếu tố khác ảnh hưởng đến độ nhạy cảm của hoạt động đầu tư với giá cổ phiếu hay không? 1. Phương pháp nghiên cứu: Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu trên, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu là kỹ thuật phân tích dữ liệu bảng (panel data) bằng phương pháp ước lượng mô hình hồi quy kết hợp tất cả các quan sát (Pooled OLS) với kiểm định Wald, Kiểm định BG, và kiểm định White, kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến để xác định phương pháp ước lượng là phù hợp với dữ liệu thu thập dữ liệu từ 121 công ty niêm yết tại HNX và HOSE theo dữ liệu bảng trong giai đoạn 2009- 2018.
Chương 2: Lý thuyết và tóm tắt những nghiên cứu trước đây. Phần này trình bày sơ lược những nghiên cứu trước đây về phân tích các ảnh hưởng của lạm phát đến độ nhạy cảm của đầu tư với giá cổ phiếu tại các thị trường mới nổi. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu; Phần này trình bày dữ liệu nghiên cứu, giải thích các biến được sử dụng và giới thiệu về phương pháp ước lượng hồi quy tác giả sử dụng. Chương 4 viết cụ thể phương pháp ước lượng hồi quy, kiểm định sự phù hợp của mô hình với các kiểm định cổ điển.
Sau đó, tác giả trình bày kết quả hồi quy đạt được, phân tích kết quả hồi quy và giải thích ý nghĩa. Chương 5 viết về kết luận kết quả tìm thấy ở bài nghiên cứu, trình bày hạn chế chưa giải quyết được và giới thiệu các hướng nghiên cứu mới. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài: Đề tài đã được nhiều chuyên gia kinh tế trên thế giới nghiên cứu, tìm hiểu về mối quan hệ giữa lạm phát và độ nhạy cảm của đầu tư nhưng tại Việt Nam đề tài vẫn là một hướng nghiên cứu mới, chưa được nhiều chuyên gia quan tâm. Do đó, bài viết cũng mang ý nghĩa quan trọng nhất định trong việc giải thích lạm phát ảnh hưởng như thế nào đến độ nhạy cảm của đầu tư đối với giá cổ phiếu ở Việt Nam giai đoạn 2009 – 2018, mở ra một nội dung mới cho các nhà nghiên cứu tại Việt LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Nam có thể tìm hiểu cũng như giải thích thêm một phần nào sự thay đổi của nền kinh tế Việt Nam.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 2. Lạm phát Theo thời gian thì lạm phát làm gia tăng mức giá chung của nền kinh tế. Lạm phát thể hiện sự giảm sút sức mua của một đơn vị tiền tệ do mức giá chung tăng cao, lượng hàng hóa và dịch vụ có thể mua được bằng một đơn vị tiền tệ giảm hơn so với trước đây.
Để xác định mức độ lạm phát, người ta xác định dựa trên chỉ số giá cả; Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là chỉ số giá cả phổ biến nhất. Chỉ số này đo lường theo thời gian việc tăng, giảm giá của giỏ hàng và dịch vụ cố định, được mua bởi một "người tiêu dùng điển hình". Lạm phát có thể ảnh hưởng theo hướng tích cực hoặc tiêu cực đến nền kinh tế. Lạm phát gây ra ảnh hưởng tiêu cực khi tăng chi phí cơ hội của việc tích trữ tiền và việc không xác định chắc chắn được kỳ vọng lạm phát trong tương lai khiến cho việc quyết định tiết kiệm và quyết định đầu tư giảm.
Tác động của lạm phát phụ thuộc vào việc có thể tiên đoán được lạm phát hay không? Tuy nhiên, không phải mọi người đều có thể dự đoán trước được lạm phát; cho nên khi lạm phát tăng cao và không thể dự đoán được, các doanh nghiệp thường đầu tư vào những khu vực hàng hóa có giá cả tăng lên cao, ngành sản xuất có chu kỳ ngắn, thời gian thu hồi vốn nhanh, hạn chế đầu tư vào những ngành sản xuất có chu kỳ dài, thời gian thu hồi vốn chậm vì có nhiều rủi ro. Lạm phát tăng cao, giá cả không ổn định dẫn đến lượng thông tin trong giá cả không đáng tin cậy, các phép tính bị sai lệch nhiều theo thời gian, dẫn đến sự khó khăn khi quyết định đầu tư (Sử Đình Thành và Vũ Thị Minh Hằng, 2008). Theo Campbell và Vuolteenaho (2004), lạm phát cao có thể làm cho các nhà đầu tư và nhà quản trị dự báo sự phát triển của công ty một cách chủ quan dựa trên những dữ liệu về tăng trưởng trong quá khứ, kết quả là định giá sai giá trị doanh nghiệp. Ổn định lạm phát thành công có thể làm giảm khả năng xảy ra việc định giá sai, những thông tin trong giá bây giờ sẽ đáng tin cậy hơn.
Quan điểm này trước đây LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 đã được đặt ra bởi Cohn và Lessard (1980), lạm phát tăng có thể gây ra một sai lầm trong việc định giá. Tỷ lệ lạm phát là một trong những yếu tố cơ bản quyết định biến động TTCK theo nghiên cứu của Saryal (2007). Phân tích lạm phát cung cấp các công cụ cho các nhà đầu tư để lựa chọn các quyết định đầu tư tốt dựa trên dữ liệu quá khứ của nền kinh tế và kỳ vọng cho tương lai của nền kinh tế. Quyết định đầu tư của doanh nghiệp: Brealey và cộng sự (2016) thì quyết định quan trọng nhất trong các quyết định tài chính của doanh nghiệp là quyết định đầu tư vì nó tạo ra giá trị cho doanh nghiệp.
Việc lựa chọn quyết định đầu tư chính xác sẽ làm gia tăng giá trị của công ty, tăng giá trị tài sản cho chủ sở hữu. Lựa chọn quyết định đầu tư không chính xác làm giảm giá trị doanh nghiệp, sẽ gây thiệt hại tài sản cho chủ sở hữu. Quyết định đầu tư là lựa chọn đối với tổng giá trị tài sản và giá trị từng bộ phận tài sản (Tài sản lưu động và tài sản cố định).