Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về địa - chính trị trong khủng hoảng Ukraine. Chương 2: Khủng hoảng Ukraine nhìn dưới góc độ địa - chính trị. Chương 3: Tác động của khủng hoảng Ukraine đến quan hệ quốc tế và dự báo tỉnh hình Ukraine. CƠ SỞ LÝ LUẬN VA CƠ SỞ THỰC TIEN VE DIA - CHÍNH TRI TRONG KHỦNG HOẢNG UKRAINE 1.
Khái niệm địa - chính trị Thuật ngữ “địa — chính trị” (geopolitics) xuất hiện từ cuối thể ky XIX. Trong những năm gân đây, khái niệm địa - chính trị được nhắc đến nhiều trong những nghiên cứu vẻ chiến lược quan hệ đối ngoại hay quan hệ quốc tế, thuật ngữ này trớ thành một yếu tố không thê thiếu trong tư duy đối ngoại và quan hệ quốc tế trong thời hiện đại. “Dia - chính trị" được sử dụng lần đầu tiên vào năm 1899 bởi nha khoa học chính trị người Thụy Điền Rudolf Kjellen (1864 - 1922). Năm 1905, Kjellen đã sử dụng thuật ngữ nay nhằm thé hiện “khoa học của một quốc gia với tư cách là một vùng trong không gian”.
Quan niệm này của ông đã chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng địa - chính trị của Friedrich Ratzel (người Đức). Kjellen cho rằng các đặc điểm ve kinh tế, chính trị và quân sự của một quốc gia bắt nguồn từ các yếu tố địa lý và môi trường của quốc gia đó. Năm 1917, Kjellen đã đưa ra định nghĩa về địa — chính trị: Là khoa học coi quốc gia là một tô chức về mặt địa lý hay là một hiện tượng trong không gian. “Tổ chức” này bị rang buộc với cuộc dau tranh dé có được các nguồn lực cần thiết cho sự sông, trong đó lãnh thé là yếu tổ quan trọng nhất.
Các quốc gia muốn ton tại và phát triển phải luôn tìm cách tăng cường các nguồn lực cần thiết, trong đó yếu tố lãnh thô là quan trọng nhất. Vì thé mở rộng lãnh thô luôn là mục tiêu của mỗi quốc gia nhằm tìm kiếm nguồn lực tài nguyên thiên nhiên cho sự sinh tồn va phát triển của đất nước. Thực tế cho thấy, gần như tat cả các xung đột quốc tế, tat cả giải quyết của các van dé liên quan đến quan hệ quốc tế, những cuộc chiến tranh ở trên thé giới từ cô chí kim thì đều có yếu tổ lãnh thé trong đó. Lãnh thé không chỉ là nguồn lực thiên nhiên nó còn là không gian sinh tồn, vì vậy các quốc gia luôn tìm cách mở rộng lãnh thô của mình.
Xâm chiếm lãnh thô đã diễn ra từ sớm trong lịch sử và đến thời cận đại hệ thông thuộc dia va chủ nghĩa thực dân ra đời. Trong thời ky cận đại, Anh là nước mở rộng lãnh thô nhiều nhất với lợi thế làm cách mạng tư sản trước, làm cách mạng công nghiệp sớm và đặc biệt Anh là đất nước hải đảo gắn với biên vì vậy nước Anh phát triển hải quân rất mạnh và đi xâm chiếm các nước khác. Diện tích thuộc địa của Anh chiếm từ các nước khác gap khoảng 120 lần điện tích của nước Anh. Dé phục vụ cho mục đích xâm chiếm lãnh thỏ, 12 chiếm giữ các vị trí trọng yếu trên trái đất, các nhà chính trị, quân sự rất chú trọng đến yếu tố địa lý.
Chính vì lý do đó, tư tưởng địa — chính trị bắt đầu hình thành. Khái niệm địa - chính trị có hai yêu tố cau thành là yếu tổ địa lý và yếu tô chính trị. hai yếu tô này gắn kết khăn khít với nhau, không thé tách rời. Khí nhìn nhận các quốc gia dưới góc độ địa — chính trị thì vị trí địa lý được coi là yêu tô trọng yếu gồm có các khía cạnh như vị trí địa lý tự nhiên, vi trí địa lý nhân van, vi trí địa lý giao thông, vi trí địa lý quốc phòng.
vị trí địa lý kinh tế, vị trí địa lý lịch sử. Trong đó, địa lý giao thông và địa lý quốc phòng có ý nghĩa xác định tầm quan trọng của một quốc gia trong quan hệ với các nước khác và giữa các nước khác với nhau, đặc biệt là giữa các cường quốc. Trong lịch sử, thời kỳ Pháp xâm lược Việt Nam, nơi dau tiên Pháp tan công là cảng Đà Nẵng, ca Mỹ cũng đỏ bộ vào Việt Nam qua cảng Đà Nẵng. Ngoài việc tan công ở cảng là vì phương tiện di chuyển giữa các quốc gia thời kỳ đó là bằng thuyền, thi vị trí địa lý ở đây thuộc cảng nước sâu, có núi đôi, dựa vào đó có thể tiễn công hoặc phòng thủ.
Đây cũng là nơi co hẹp của nước ta, do đó nếu kẻ thù chiếm được sẽ dé dang chia cắt Việt Nam, dé đàng tấn công vào phía Nam hoặc ra phía Bắc. Yếu tổ chính trị ở trong khái niệm địa - chính trị là tất cá những hoạt động, những van đề gắn với quan hệ giai cấp, dân tộc, quốc gia và các nhóm xã hội xoay quanh van dé trung tâm là giành, giữ chính quyền và sử dụng quyên lực nhà nước. Chính trị phan ánh tập trung của kinh tế, nên trong địa — chính trị luôn có nội hàm kinh tế. Tuy nhiên, không phải quốc gia nào có nên kinh tế phát triển thì mới có tiếng nói trong chính trị vì chính trị có tính độc lập tương đối và có quy luật riêng của nó.
Nhật Bản là một ví dụ điện hình cho trường hợp này, khi Nhật Bản là một trong ba trung tâm tài chính lớn trên thế giới nhưng vẫn là “chú lùn về chính trị”. Khí so sánh với nước Nga, tuy nền kinh tế không mạnh như Nhật Bản nhưng vẫn có vai trò chính trị rất lớn trong các van dé quốc tế, trở thành lực lượng cả Mỹ và Tay Âu rất đáng gom. Trên thực tế, yếu tố địa lý và chính trị có quan hệ nhân qua, tác động lẫn nhau. Yếu tố địa lý thường chi phối việc hoạch định đường lỗi chính trị, đường lỗi chiến lược của một quốc gia và ngược lại, quyền lực chính trị có anh hưởng đến địa lý.
Thái Lan đã biết tận dụng vị trí địa lý là trái độn giữa các cường quốc. Thái Lan nằm giữa các vùng thuộc địa 13 của Anh và Pháp. Phía Đông là Đông Dương- thuộc địa của Pháp, phía Tây là Myanmar - thuộc địa cúa Anh. Lợi dụng vị trí “vùng đệm” và mâu thuẫn giữa hai thé lực Anh và Pháp.
Thái Lan đã thực hiện chính sách ngoại giao mềm đẻo (chính sách ngoại giao cây tre) cho từ bản nước ngoài được phép đầu tư kinh doanh cắt nhượng một số vùng đất phụ thuộc (vốn là lãnh thé của Campuchia, Lao, Mã Lai). Kết quả Thái Lan trở thành vùng trung lập, cơ bản giữ được chủ quyên đất nước, không lệ thuộc hắn vào nước nào, tránh được xâm lược từ hai phía. Rõ ràng điều kiện địa lý chỉ phối chính sách quốc gia nhưng cũng bị tác động trở lại là chính sách chính trị, đường lối chính trị của các quốc gia có thé làm hạn chế những điều kiện không thuận lợi của địa lý. Singapore là một bán đảo nam dưới đuôi của Malaysia, về tài nguyên cũng không có, điện tích không rộng nhưng nhờ việc xây dựng chính sách phát triển ma bây giờ trở thanh một nén kinh tế lớn trên thé giới, thu nhập đầu người cao nhờ phát trién các trạm trung chuyên.
Đầu thể kỷ XX, địa - chính trị là khái niệm chí sự tương tác giữa địa lý và chính trị, với những cuộc dau tranh về vị trí quyền lực và sức mạnh giữa các quốc gia. Địa chính trị bao gồm các yếu tổ địa lý, như vị trí địa lý và tài nguyên tự nhiên, cũng như các yếu tổ chính trị, như quân sự, kinh tế, chính trị và văn hóa. Các nhà lịch sử và địa lý học như Alfred Thayer Mahan (1840-1914) và Halford John Maekinder (1§61—1947) đã phát triển thêm vẻ khái niệm nảy. Mahan cho rang lực lượng hải quân mạnh la chia khóa dé phát triển sức mạnh quốc gia, vì những quốc gia kiểm soát được đại đương có thé áp đảo trong hệ thống quan hệ quốc tế.
Trong khi đó, Mackinder lập luận rằng quốc gia nào kiểm soát được “vung dat trung tim” giữa nước Đức va vùng Siberia sẽ có thé kiểm soát được the gidi. Lich sử nhân loại cho thay, các cuộc dau tranh địa - chính trị quan trong nhất nhằm giành vị trí bá quyền trong lich sử thường diễn ra giữa các cường quốc hải dương và cường quốc lục địa như cuộc Chiến tranh Peloponnese giữa Athens — một cường quốc hải dương va Sparta — một cường quốc lục địa. Trong những năm 1930, thuyết địa chính trị được các học giả Dire sử dung rộng rãi, với vai trò đặc biệt của vị tướng kiêm giáo sư Khoa Địa lý trường Dai học Munich Karl Haushofer. Haushofer đã giúp đưa thuyết địa chính trị vào chính sách đối ngoại của chính 14 quyền Đức Quốc xã sau khi Hitler lên nim quyền vào năm 1933.
Chính quyền Đức Quốc xã cho rang nước Đức cần phải mở rộng “không gian sinh tồn” (Lebensraum) dé đạt được khả năng tự cung tự cấp. Khái niệm này đã được sử dụng dé biện minh cho việc xâm chiếm lãnh thô các quốc gia láng giéng trong chính sách mở rộng lãnh thé của Đức. Có thé nói, chính sách của nước Đức thời ky nay đã chịu ảnh hướng bởi lập luận của Halford Mackinder về “ving đất trung tam” (Heartland theory). Theo đó, Đức Quốc xã cho rằng nước Đức sẽ vươn lên tới vị trí bá chủ toàn cầu néu chiếm được vùng đất trung tâm Châu Âu và không bị kiềm chế bởi các cường quốc hải dương như Anh hay Mỹ.
Tóm lại, mặc di vẫn con có nhiều định nghĩa khác nhau về địa - chính trị, nhưng nhìn chung, khi nói đến địa chính trị là người ta nói đến mỗi quan hệ giữa nhân tố không gian, chính trị, địa lý đối với địa - chính trị của một quốc gia, đặc biệt là đối với chính sách đối ngoại. Địa - chính trị trong quan hệ quốc tế - Khoa học quan hệ quốc tế Khi con người đầu tiên xuất hiện, các thị tộc bộ lạc chỉ có những moi quan hé trong nội bộ và thị tộc bộ lạc về việc tranh giành các nguồn nước hay tài nguyên rừng trong quá trình sinh song. Khi giai cấp va nha nước xuất hiện, các chủ thé nha nước đầu tiên đã định vị khu vực cư trú va khang định chủ quyền, hình thành giữa các quốc gia và tộc người. Lịch sử nhân loại đã trải qua những cuộc chiến tranh dé chiếm đất đai và bao vệ quyền ton tại của mình.
Dong thời, các mối quan hệ vẻ kinh tế, chính trị và ngoại giao đã xuất hiện giữa các quốc gia.