Chương 1 đã tóm tắt một cách đầy đủ các vấn đề cơ bản của đề tài nghiên cứu. Giới thiệu đề tài, mục tiêu và các đối tượng nghiên cứu, không gian và thời gian nghiên cứu cũng như ý nghĩa và chính sách liên quan đến đề tài. Chương này cung cấp cơ sở và tiền đề cho việc phát triển và nghiên cứu các chương trình tiếp theo theo một trình tự hợp lý và có ý nghĩa hơn. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2.
CƠ SỞ LÍ THUYẾT VỀ KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. Khái niệm về khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Bản chất NH TMCP cũng được xem như một tập đoàn kinh doanh và sẽ hoạt động với mục đích tối ưu hoá lợi nhuận ở trong phạm vi mức độ rủi ro có thể được chấp nhận. Trong đó khả năng sinh lời (KNSL) là đích đến được các ngân hàng chú trọng hơn cả vì thu nhập càng cao sẽ giúp cho các ngân hàng này có thể bảo toàn được nguồn vốn, khả năng mở rộng thị phần sẽ được tăng cao hơn và vốn đầu tư cũng sẽ được thu hút (Peter S. Theo Yuanita Nuraini (2019) cũng cho rằng hiệu quả hoạt động của NHTM có thể được đánh giá bằng nhiều phương pháp khác nhau và khả năng sinh lời của NHTM là một trong số các phương pháp để đánh giá hiệu quả hoạt động sinh lòi của NHTM và được hiểu như là khả năng biến đổi đầu vào thành đầu ra, giảm thiểu chi phí để tăng cạnh tranh của ngân hàng (Nguyễn Việt Hùng, 2008).
Theo Luật các Tổ chức Tín dụng (2010), NHTM là hình thức tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định với mục tiêu tạo ra lợi nhuận. Trong đó, lợi nhuận được hiểu là một số tiền tuyệt đối thì KNSL là một con số mang tính tương đối. Một doanh nghiệp mà thành công hay thất bại thì KNSL là thước đo chuẩn mực nhất. Theo Sundaram và Varshney (2020) cũng nhận định rằng “Khả năng sinh lời của một ngân hàng thương mại cổ phần là khả năng ngân hàng tạo ra thu nhập và kiếm được lợi nhuận một cách bền vững theo thời gian…Các NH TMCP tạo ra lợi nhuận chủ yếu thông qua các hoạt động cho vay của họ, bao gồm việc cung cấp các khoản vay và tạm ứng cho người đi vay với lãi suất cao hơn chi phí tài trợ của họ.Tuy nhiên, lợi nhuận của một ngân hàng phải chịu nhiều rủi ro khác nhau, chẳng hạn như rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động.
Nhìn chung, tiềm năng lợi nhuận của một ngân hàng thương mại được xác định bởi khả năng quản lý các rủi ro này một cách hiệu quả và thích ứng 9 với các điều kiện thị trường thay đổi trong khi vẫn duy trì lợi thế cạnh tranh trong các lĩnh vực kinh doanh cốt lõi của mình.” Như vậy, KNSL thể hiện được ngân hàng sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong quá trình kinh doanh của mình. Đối với các NHTM, KNSL đóng vai trò quan trọng trong việc xác định kết quả kinh doanh của họ. Khi mức sinh lời càng cao sẽ phản ánh hoạt động hiệu quả của ngân hàng, từ đó tạo môi trường thuận lợi cho các hoạt động của ngân hàng. Do đó, việc tối ưu KNSL lời luôn được xem là ưu tiên hàng đầu của mọi ngân hàng.
Đồng thời, các ngân hàng liên tục thực hiện các chính sách và biện pháp để cải thiện KNSL và đạt được ổn định trong kinh doanh. Các chỉ tiêu đo lường về khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM, chúng ta có thể dựa vào các chỉ số thể hiện KNSL. Theo Nguyễn Thị Thu Hiền (2017), để đánh giá hiệu quả tài chính của các NHTM thì KNSL là một trong các chỉ tiêu đo lường quan trọng. Để đo lường KNSL của ngân hàng, Peter S.
❖ Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản – ( ROA) Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) là thước đo cho biết KNSL của ngân hàng so với tổng tài sản hiện có. Bằng cách phân tích ROA, các nhà đầu tư và nhà phân tích có thể xem xét khả năng của ban quản lý trong việc tạo ra thu nhập từ các tài sản đã sử dụng (Amit Ghosh, 2019). 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑠𝑎𝑢 𝑡ℎ𝑢ế ROA = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 Theo Nguyễn Thị Cành (2009), khi có cùng quy mô tài sản, ngân hàng nào có ROA cao thì ngân hàng đó có phương pháp kinh doanh và đầu tư hiệu quả. Chỉ số này có thể tính toán với nhiều số đo lợi nhuận, chẳng hạn như lợi nhuận trước và sau dự phòng, lợi nhuận trước và sau thuế và các khoản khác thường.
Hơn nữa, ROA đưa 10 ra đánh giá toàn diện về KNSL của ngân hàng vì nó cho thấy các tác động nguồn thu, sử dụng tài sản và quản lý rủi ro. Bên cạnh đó Goddard và cộng sự (2004) còn cho biết, số liệu này có thể được sử dụng để làm rõ hiệu quả quản trị của một ngân hàng đối với quá trình chuyển đổi tài sản sang doanh thu. Chính vì thế mà hiện nay trong các nghiên cứu về KNSL của ngân hàng thì ROA luôn được sử dụng làm thước đo, tiêu biểu như: Christian Calmès (2010), Hery (2015), Đinh Thị Thu Hồng, Nguyễn Hữu Tuấn (2021), Deli Yuan và cộng sự (2022), Lê Trung Hải (2023), Tăng Mỹ Sang (2024),. Và trong các bài nghiên cứu từ trước tới nay thì ROA luôn được đánh giá cao trong việc đo lường KNSL của ngân hàng vì lý do chính là ROA không chịu tác động bởi các công cụ như đòn bẩy tài chính.
ROA được đánh giá là đại lượng quan trọng nhất để đo lường KNSL của ngân hàng (Golin, 2001). ❖ Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu – (ROE) Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE) được xem là chỉ số đo lường KNSL trên mỗi đồng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp. Hay nói cách khác thì ROE đo lường khả năng sử dụng vốn hiệu quả của doanh nghiệp và theo lý thuyết thì ROE càng cao thì sử dụng vốn càng có hiệu quả. 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑠𝑎𝑢 𝑡ℎ𝑢ế ROE = 𝑣ố𝑛 𝑐ℎủ 𝑠ở ℎữ𝑎 Theo Nguyễn Thị Cành (2009), ROE là chỉ tiêu dùng để đánh giá suất sinh lời tài chính vì vậy nó được sử dụng để đo lường hiệu quả HĐKD của mỗi ngân hàng.
KNSL trên một đồng vốn của ngân hàng càng lớn càng chứng tỏ hiệu suất và hiệu quả sử dụng đồng vốn trong ngân hàng đó càng cao. ROE phải đạt mức tối thiểu 15% mới đạt tiêu chí đánh giá doanh nghiệp có đủ năng lực tài chính theo chuẩn quốc tế. Hiện nay có nhiều nghiên cứu đã sử dụng ROE làm chỉ tiêu đo lường cho KNSL, tiêu biểu như: Ong Tze San và Teh Boon Heng (2013), Phan Thị Hằng Nga và Trần Thị Phương Thanh (2019), Guo Wu và Hongfei Yuan (2021), Suli Lv và cộng sự (2022),. Đối với Ong Tze San và Teh Boon Heng (2013) họ cho biết, ROE được đánh giá cao hơn ROA vì chỉ số này ngụ ý rằng ban quản lý có hiệu quả trong việc 11 quản lý các cổ đông tài trợ và tạo ra doanh thu cho cổ đông, có nghĩa là cổ đông được hưởng lợi từ vốn của mình đầu tư cho ngân hàng.
Tuy nhiên nhìn chung thì các nhà nghiên cứu lại đánh giá cao về chỉ số tài chính ROA hơn bởi vì ROE có một nhược điểm chính là chịu sự tác động của đòn bẩy tài chính. ❖ Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên – (NIM) Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) là chỉ số phản ánh sự chênh lệch phần trăm giữa thu nhập từ lãi và chi phí lãi phải trả của ngân hàng có thể nhận được thông qua việc rà soát cẩn thận tài sản sinh lời và theo đuổi nguồn vốn có chi phí thấp, do đó NIM sẽ giúp cho ngân hàng dự báo trước khả năng sinh lãi của ngân hàng thông qua việc kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và việc tìm kiếm các nguồn có chi phí thấp nhất. 𝑇ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑙ã𝑖−𝐶ℎ𝑖 𝑝ℎí 𝑙ã𝑖 NIM = 𝑇à𝑖 𝑠ả𝑛 sinh 𝑙ã𝑖 Nếu ngân hàng có chỉ số NIM dương hay nói cách khác là chỉ số NIM càng cao thì cho thấy ngân hàng có xu hướng chứng tỏ KNSL được cải thiện, đang hoạt động có lãi, ngược lại nếu NIM âm hay chỉ số NIM càng thấp thì chứng tỏ hiệu quả hoạt động sẽ làm giảm lợi nhuận và báo cáo hiệu quả hoạt động kém hiệu quả của các ngân hàng (Köhler, 2014). Từ trước đến nay NIM vẫn luôn được chọn làm biến phụ thuộc trong nhiều bài nghiên cứu, cụ thể: Ong Tze San và Teh Boon Heng (2013), Salike và cộng sự (2018), Minh và cộng sự (2020)…Tuy nhiên, theo Naceur và Goated (2008), chỉ số này không tính đến thu nhập ngoài lãi và chi phí hoạt động khác nên NIM sẽ không thể đánh giá được bao quát lợi nhuận của ngành ngân hàng.
Đây cũng là lý do mà đa số các nghiên cứu tại Việt Nam ít sử dụng NIM làm chỉ số đo lường KNSL của các NHTM. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ FINTECH 2. Khái niệm về Fintech Fintech là một thuật ngữ rộng và có ý nghĩa khác nhau đối với từng đối tượng khác nhau (Franklin Allen, 2020), tuy nhiên có thể hiểu rằng Fintech chính là sự kết 12 hợp giữa hai thuật ngữ riêng biệt là công nghệ “Financial” và tài chính “Technology” (Peter Gomber, 2017), liên quan đến đề cập tận dụng sự sáng tạo công nghệ để sử dụng trong các hoạt động, dịch vụ tài chính. Trong kinh doanh, theo Dorfleitner và cộng sự (2017) Fintech được định nghĩa là việc cung cấp công nghệ cho các nhà cung cấp dịch vụ tài chính cũng như cung cấp các sản phẩm tài chính hoặc dịch vụ tài chính đổi mới (Ratecka, 2020).
Fintech cũng có thể đề cập đến các công ty cung cấp giải pháp kỹ thuật số sáng tạo cho các dịch vụ tài chính (Laivi Laidroo, 2021). Hơn nữa, Fintech được dùng để mô tả một loạt mô hình kinh doanh mới có tác động đáng kể đến thị trường tài chính và cung cấp dịch vụ tài chính ( Bo Li và Zeshui Xu, 2021), thậm chí có thể đề cập đến ngành công nghệ ứng dụng để cải thiện hiệu quả tài chính (Patrick Schueffel, 2017). Trong học thuật, Fintech là một môn học liên ngành kết hợp tài chính, công nghệ và quản lý đổi mới (Kelvin Leong, 2018). Có thể định nghĩa Fintech là những sáng kiến giới thiệu các sản phẩm và công nghệ mới (Itay Goldstein, 2019) và giảm thiểu sự bất cân xứng thông tin trong ngành tài chính ( Bo Li và Zeshui Xu, 2021).