CHƯƠNG 1: Cơ sở lý luận về Fintech và dịch vụ ngân hàng. Trình bày tổng quan cơ sở lí luận về Fintech và Ngân hàng thương mại; Sự xuất hiện; Phân khúc chính; Các sản phẩm điển hình; Những tác động làm thay đổi 8 nền tài chính của Fintech và ngân hàng; và những bài học kinh nghiệm từ nước ngoài. CHƯƠNG 2: Những cơ hội và thách thức của Ngân hàng thương mại Việt Nam trước sự phát triển của Fintech. Trình bày tình hình Fintech phát triển tại Việt Nam; Xu hướng phát triển của Fintech; Những lợi thế và khó khăn mà ngân hàng phải đối mặt; Nguyên nhân của những khó khăn này và Những cơ hội đối với các Ngân hàng thương mại tại Việt Nam.
CHƯƠNG 3: Một số kiến nghị giúp ngân hàng phát triển phù hợp với xu hướng công nghệ mới. Trình bày chiến lược phát triển nền kinh tế số của Chính phủ và chuyển đổi số của Ngân hàng thương mại Việt Nam. Đề xuất một số kiến nghị về khung pháp lý, cơ sở hạ tầng công nghệ, kỹ năng tổ chức lãnh đạo và các kiến nghị dành cho các Ngân hàng thương mại tại Việt Nam. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ FINTECH VÀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG 1.1 Cơ sở lý luận về Fintech Giai đoạn đầu phát triển, Fintech được hiểu là sự kết hợp của 2 thuật ngữ “tài chính” và “công nghệ”.
Nói cách khác, Fintech là việc áp dụng công nghệ mới vào các sản phẩm và các dịch vụ tài chính nhằm giúp hỗ trợ và nâng cao hiệu suất phục vụ khách hàng. Cụ thể, các tổ chức tài chính đã phát triển các phần mềm tài chính dựa trên các nền tảng công nghệ thông tin nhằm nâng cao hiệu quả và tiết kiệm thời gian của các giao dịch tài chính. Ngày nay, cùng với cuộc Cách mạng công nghệ 4.0 và sự bùng nổ của các công nghệ mới và tiên tiến, Fintech dần được biết đến nhiều hơn và mở rộng hơn, tiếp cận được nhiều đối tượng khách hàng hơn. Đặc biệt, nhiều ứng tài chính kết hợp với công nghệ được phát minh và phát triển nhằm hỗ trợ và tăng lượng khách tiếp cận đối với các dịch vụ tài chính như huy động vốn trực tiếp, cho vay P2P, thanh toán và chuyển khoản trực tuyến, quản trị các rủi ro và quản lý đầu tư,… (Dorfleitner, G., 2017) Theo nghĩa rộng, Fintech là một lĩnh vực mới, là sự kết hợp giữa tài chính cùng công nghệ để nâng cao hiệu quả của cac hoạt động tài chính.
Fintech là một quy trình hoàn chỉnh đến với khách hàng thông qua ứng dụng để cung cấp sản phẩm và dịch vụ tài chính trên Internet. Có thể nói rằng, Fintech đóng vai trò khá quan trọng, là tiền đề cho các doanh nghiệp hiện đại hóa chất lượng cung cấp dịch vụ, phát triển nền tảng công nghệ, ứng dụng kỹ thuật vào trong các hoạt động kinh doanh. Ngoài ra, nó định hướng cho các doanh nghiệp đổi mới mô hình và phương thức kinh doanh, tiết kiệm nhiều loại chi phí và rút ngắn thời gian giao dịch cho khách hàng. Thông qua việc ứng dụng và khai thác các nền tảng, yếu tố công nghệ như điện toán đám mây, khai thác kho dữ liệu khổng lồ và các công nghệ phân tích chuyên sâu để tìm hiểu nhu cầu khách hàng.
Từ đó, phát triển, và cải tiến, sáng tạo các sản phẩm, dịch vụ mới nhằm đáp ứng các nhu cầu của từng phân khúc khách hàng nói chung và mỗi khách hàng nói riêng. Fintech phát triển mạnh nhờ những nguồn đầu tư khổng lồ của các tổ chức, doanh nghiệp tư 10 nhân từ các nước phát triển trên thế giới. Kết quả cho thấy, Fintech đã tạo nên những thành tựu ấn tượng, những bước đột phá lớn như mạng di động, phần mềm quản lý tài chính cá nhân, công nghệ điện toán đám mây, phần mềm xử lý hình ảnh và các kỹ thuật phân tích dữ liệu,. trong đó, lĩnh vực phân tích dữ liệu, sinh trắc học và quản lý nhận dạng trong các ứng dụng tài chính đã gây được nhiều ấn tượng.
Ủy ban Basel (2018) đã chấp nhận một định nghĩa của Ban An tòan Tài chính (Financial Stability Board - FSB) về Fintech, qua đó “Fintech là các sáng tạo về công nghệ tài chính có thể cho phép hình thành các các mô hình kinh doanh, các ứng dụng, các tiến trình hay sản phẩm mới có thể mang đến những tác động quan trọng cho thị trường tài chính, cho các thể chế và cho việc cung ứng dịch vụ tài chính”. Điểm đáng quan tâm trong định nghĩa trên của FSB là Fintech không những chỉ là các họat động của riêng các công ty Fintech, mà còn là của các các ngân hàng hiện hữu. Định nghĩa này cũng hữu ích trong việc phân tích các cơ sở cho các chiến lược hợp tác, hay cạnh tranh giữa các doanh nghiệp Fintech và ngân hàng (Trương Quang Thông , 2018). Như vậy, có thể hiểu Fintech là sự kết hợp giữa Technology (công nghệ) và Finance (tiền tệ, tài chính), hay công nghệ tài chính.
Nói một cách đơn giản, fintech đề cập đến việc tận dụng những sản phẩm của công nghệ để sử dụng trong các hoạt động, cung cấp dịch vụ tài chính.1 Sự xuất hiện của Fintech Làn sóng fintech đã cách mạng hóa cách thức kinh doanh, từ bỏ mô hình kết nối các Ngân hàng thương mại truyền thống và tạo ra nhiều lựa chọn tài chính để huy động vốn, thanh toán và các hoạt động giao dịch với chi phí thấp. Fintech tham gia vào hoạt động tài chính tiền tệ, cho vay, thanh toán, quản lý và đầu tư tài sản, , quản lý vốn lưu động, thu thập dữ liệu, đánh giá và xếp hạng tín dụng, tiền điện tử … Đặc điểm chung của các hoạt động fintech là xây dựng và thực hiện công nghệ để trợ giúp thị trường tài chính và hệ thống mà chúng hoạt động hiệu quả hơn, chẳng hạn như huy động tiền thông qua fintech để giúp kết nối các nhà tài trợ chưa từng thấy trước đây. Dòng tiền có thể được nhìn thấy rất nhanh chóng trực diện hoặc chỉ với một cú click chuột - không cần thông qua chủ đầu tư. Fintech không chỉ dừng lại ở việc kiểm 11 tra tài khoản trực tuyến hoặc xây dựng danh mục đầu tư trực tuyến, nó giúp xử lý các hoạt động tài chính một cách nhanh chóng và dễ dàng.
Do đó, các fintech hoạt động nhanh nhẹn hơn ngân hàng có thể tiết kiệm được rất nhiều tiền. Đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp và những người trẻ tuổi, fintech có tác động tích cực bằng cách gia tăng cạnh tranh và giảm chi phí cho khách hàng. Fintech cung cấp các dịch vụ tài chính cho những người có nhu cầu nhưng chưa được các ngân hàng truyền thống hỗ trợ. Từ quan điểm lợi nhuận, sự gia tăng của các doanh nghiệp Fintech đặt ra nhiều thách thức cho cả fintech và ngân hàng.
Trong thời buổi cạnh tranh gay gắt, xung đột lợi ích là điều hiển nhiên. Khi nói đến an ninh tài chính, thị trường sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro hơn có thể tác động tiêu cực đến hệ thống nếu không có các quy định phù hợp để bắt kịp xu hướng. Các vấn đề pháp lý, tuân thủ quy định, thông lệ và tiêu chuẩn là những điều kiện đủ để đảm bảo một sân chơi bình đẳng giữa Fintech và ngân hàng.2 Phân khúc chính của Fintech Theo FSB (2017), các hoạt động của Fintech có thể được chia thành năm loại dịch vụ tài chính: Nhận tiền gửi, cho vay và huy động vốn, các dịch vụ bảo hiểm, quản lý đầu tư và các dịch vụ hỗ trợ thị trường.1 phản ánh thực tế các phân khúc chính trong lĩnh vực Fintech.1 Phân khúc chính của Fintech 1.3 Các sản phẩm dịch vụ điển hình 1.1 Ví điện tử và thanh toán trực tuyến qua ví điện tử Ví điện tử là tài khoản điện tử đóng vai trò thanh toán trực tuyến, mua bán hàng hóa nhanh chóng và tiện lợi trên Internet. Các ví điện tử phổ biến trên thế giới như Alipay, Google Wallet, PayPal, Payoo, Momo, Bankplus, WePay, Zalo Pay,.
Ví 13 điện tử không chỉ dùng để thanh toán tiền mua hàng mà còn dùng để lưu trữ thông tin để làm thẻ ngân hàng, thẻ bảo hiểm, thẻ trả trước, thẻ tín dụng,… Nếu bạn muốn lưu nhiều thông tin nơi lưu trữ tất cả lịch sử giao dịch, điểm thưởng tích lũy, mã ưu tiên, số dư.2 Hình thức vay ngang hàng (P2P) P2P Lending hay còn gọi là cho vay ngàng hàng là công nghệ kết nối các giao dịch tài chính giữa người cần vốn và các nhà đầu tư. Quá trình cho vay diễn ra một cách minh bạch và vô cùng tiện lợi dựa trên việc chấm điểm tín nhiệm khách hàng thông qua hệ thống định danh e-KYC. Mô hình này đã giúp nhiều người lao động ổn định được tài chính, đặc biệt là trong thời điểm đại dịch Covid-19 đang diễn ra từ cuối năm 2019 đến nay. Hơn thế nữa, mô hình trên cũng góp phần nào loại trừ nạn “tín dụng đen” trong đời sống người dân.
Tại Việt Nam, Công ty công nghệ Timo đã triển khai mô hình này thành công cho thị trường trong nước. Trên thế giới đã xuất hiện hình thức cho vay nagng hàng lâu, trong đó phải kể đến Lending Club, một ứng dụng nổi tiếng chuyên bắt đầu hoạt động từ 2015 dành riêng cho các doanh nghiệp và cá nhân kinh doanh nhỏ lẻ, ứng dụng cho phép khách hàng nhận được tiền vay, còn các nhà đầu tư sẽ nhận lại các phiếu ghi nợ hỗ trợ bởi các khoản thanh toán từ người vay. Bên cạnh Lending Club còn có các doanh nghiệp Sofi, Asset Avenue, Avant Credit, Funding circle, Kaddage DianRong,… cũng hoạt động với hình thức tương tự.3 Quỹ trực tuyến hỗ trợ giao dịch chứng khoán Các quỹ này cung cấp các nền tảng tư vấn giao dịch và đầu tư như tư vấn và môi giới trực tuyến; phân phối chứng chỉ quỹ qua sở giao dịch chứng khoán; quản lý danh mục đầu tư trực tuyến. Nhờ vào công nghệ tự động hóa, các quỹ này hỗ trợ khách hàng 24/7 với mức chi phí cố định không lớn hơn 0,5% trên tổng số dư tài khoản, con số này thấp hơn nhiều so với lệ phí từ 1-2% của các cố vấn lập kế hoạch tài chính tính.
Hiện nay, ngày càng nhiều các công ty tài chính tham gia vào lĩnh vực trên bởi tiềm năng và sự tăng trưởng vượt bậc của thị trường chứng khoán trong năm vừa 14 qua. Theo số liệu của Trung tâm Lưu ký Chứng khoán Việt Nam (VSD), tính đến cuối tháng 10/2021, có hơn 3,86 triệu tài khoản chứng khoán được mở, điều đó có nghĩa là cứ mỗi tháng sẽ có thêm 100.000 tài khoản mới tham gia thị trường.