Chương 1: Cơ sở lý thuyết về phát triển Fintech tại các NHTM. Chương 2: Thực trạng phát triển Fintech tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam. Chương 3: Giải pháp phát triển Fintech tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam. 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÁT TRIỂN FINTECH TẠI CÁC NHTM.
Lý luận chung về Fintech. Định nghĩa Fintech. Fintech – Financial Technology, công nghệ tài chính là cụm từ được sử dụng để mô tả các doanh nghiệp sử dụng các phần mềm và công nghệ hiện đại trong việc cung cấp các dịch vụ tài chính đến khách hàng. “Các công nghệ được sử dụng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng như internet, điện thoại di động, công nghệ điện toán đám mây và các phần mềm mã nguồn mở hay tiền mã hóa như Bitcoin”.
Theo trích dẫn từ Huffington Post: “Fintech được định nghĩa là một ngành công nghiệp tài chính mới áp dụng công nghệ để nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính”. Fintech là các ứng dụng, quy trình, sản phẩm, mô hình kinh doanh mới trong ngành dịch vụ tài chính, bao gồm một hay nhiều dịch vụ tài chính bổ sung và được cung cấp như một quy trình “từ đầu đến cuối” qua mạng internet. Cho đến nay, chưa có một định nghĩa về Fintech một cách thống nhất và có rất nhiều những định nghĩa cho cụm từ này. Tuy nhiên, có thể hiểu một cách đơn giản là Fintech là sử dụng công nghệ trong lĩnh vực tài chính, vận dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật vào lĩnh vực tài chính nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động.
Đối tượng của Fintech. Nếu như trong thị trường tài chính truyền thống với 2 đối tượng là các định chế tài chính và khách hàng thì Fintech lại có đối tượng khác biệt, đối tượng của Fintech gồm 3 bên và chúng có tác động qua lại với nhau đó là: các định chế tài chính, các công ty Fintech và khách hàng. - Các định chế tài chính: Các định chế tài chính như ngân hàng, công ty tài chính, đầu tư, bảo hiểm, chứng khoán,… là những trụ cột trong ngành tài chính. Với tầm quan trọng của việc áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ vào lĩnh vực tài chính – ngân hàng.
Các 8 định chế tài chính này thường có hai phương hướng. Một hướng là các định chế tài chính hợp tác, đầu tư cùng các công ty Fintech. Hướng thứ hai là các định chế tài chính này chủ động nguồn vốn đầu tư trực tiếp vào nghiên cứu công nghệ mới, phát triển thị trường. - Các công ty Fintech: Các công ty Fintech là những công ty hoạt động một cách độc lập về công nghệ áp dụng trong các sản phẩm, dịch vụ trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng.
Đối tượng khách hàng của các công ty Fintech này có thể là các định chế tài chính nói trên, hoặc cũng có thể là khách hàng – người sử dụng cuối cùng các sản phẩm – dịch vụ này, khi đó, các công ty Fintech và các định chế tài chính lại có cùng một đối tượng khách hàng. - Khách hàng: Tất cả các sản phẩm, dịch vụ nói chung đều với một mục đích là hướng tới khách hàng, hướng tới nhu cầu của khách hàng. Khách hàng là những người sử dụng cuối cùng các công nghệ tài chính. Đây là đối tượng hướng tới của cả các định chế tài chính và các công ty Fintech.
Một sản phẩm – dịch vụ có tồn tại được hay không đều được quyết định bởi sự chấp nhận sản phẩm – dịch vụ đó của khách hàng. Nếu khách hàng có phát sinh bất cứ một nhu cầu gì mới thì các công ty sẽ nắm bắt một cách nhanh nhất nhằm đưa đến sự phục vụ tốt và hài lòng nhất. Các nhóm hoạt động chính của Fintech. Các công ty Fintech được chia thành 2 nhóm: Nhóm thứ nhất là các công ty phục vụ người tiêu dùng, cung cấp các công cụ kỹ thuật số để cải thiện cách các cá nhân vay mượn, quản lý tiền bạc, tài trợ vốn cho các startup.
Các công ty này cung cấp sản phẩm dịch vụ đến đối tượng khách hàng sử dụng cuối cùng. Nhóm các công ty này chính là các đối thủ cạnh tranh của các định chế tài chính truyền thống. Nhóm thứ hai là các công ty thuộc dạng “Back – office”, các công ty này có vai trò hỗ trợ công nghệ cho các định chế tài chính. Nếu như nhóm các công ty Fintech 9 trên có cùng đối tượng khách hàng với các định chế tài chính truyền thống thì nhóm này lại hỗ trợ, cộng tác, hợp tác trong việc cung cấp các sản phẩm, dịch vụ tới khách hàng sử dụng cuối cùng.
Hiện nay, Fintech đang hoạt động trong những lĩnh vực như: thanh toán, cho vay ngang hàng, kêu gọi vốn cộng đồng, quản lý tài sản, tự động hóa đầu tư chứng khoán, công nghệ bảo hiểm, tiền kỹ thuật số, công nghệ blockchain, quản lý tài chính cá nhân,… 1. Những tác động của Fintech. Fintech hiện đang có ứng dụng trong rất nhiều lĩnh vực của ngành tài chính – ngân hàng, từ những lĩnh vực truyền thống như tiền gửi, tiền vay, thanh toán cho đến những lĩnh vực khác như bảo hiểm, chứng khoán hay một lĩnh vực rất được quan tâm của các ngân hàng là quản trị rủi ro. Do đó, Fintech còn có những ảnh hưởng sâu hơn trong lĩnh vực tài chính như cơ cấu thị trường và cơ cấu sản phẩm – dịch vụ của các ngân hàng.
Từ đó, ảnh hưởng đến các chiến lược phát triển trước mắt và lâu dài và mọi khía cạnh kinh doanh của cả một hệ thống ngân hàng. Thứ nhất, về kênh phân phối. Fintech tác động đến kênh phân phối các sản phẩm – dịch vụ tài chính truyền thống của dịch vụ ngân hàng. Những tác động này được biểu hiện rõ ràng thông qua việc phát triền mạnh của xu thế phát triển mạnh của các kênh bán hàng mới qua Internet Banking, Mobile Banking, Tablet Banking, mạng xã hội như Facebook, ngân hàng kỹ thuật số, giao dịch không sử dụng giấy tờ… Thứ hai, Fintech với nền tảng các ứng dụng có công nghệ cao, như ứng dụng dữ liệu lớn – Big Data, hỗ trợ trong công tác phân tích hành vi khách hàng, giúp các định chế tài chính có thể giảm thiểu chi phí, dễ dàng thu thập dữ liệu cả bên trong lẫn bên ngoài, hỗ trợ công tác ra quyết định, và nâng cao chất lượng dịch vụ, tăng thêm sự hài lòng của khách hàng, mang về thêm giá trị gia tăng, đẩy mạnh nhu cầu của người sử dụng.
Thứ ba, “ngân hàng không giấy”, “tổ chức tài chính không giấy” sẽ là xu hướng và trở nên phổ biến. Đây sẽ là một thách thức lớn đối với các lĩnh vực dịch vụ tài chính, vai trò của các chi nhánh sẽ bị giảm thiểu. Với chi phí phải bỏ ra khá cao, 10 việc mở rộng địa bàn bằng cách mở thêm các chi nhánh sẽ không còn là một sức mạnh cạnh tranh nữa. Thay vào đó, sức mạnh cạnh tranh sẽ đến từ việc phát triển các công nghệ tài chính tại các định chế tài chính và sự cạnh tranh này ngày một trở nên gay gắt hơn.
Thứ tƣ, thị phần của các ngân hàng cũng như các định chế tài chính đang có xu hướng giảm đi, và đang “chia phần” cho các công ty Fintech. Nếu như trước đây, các ngân hàng truyền thống và định chế tài chính chiếm 100% thị phần trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng thì bây giờ thị phần đó được chia ra cho các công ty Fintech. Ngoài các sản phẩm – dịch vụ truyền thống mà ngân hàng cung cấp bị chia sẻ thị phần với các công ty Fintech mà còn một số lĩnh vực, sản phẩm – dịch vụ khác mà ngân hàng không có chỗ đứng trong đó như: tiền ảo – Bitcoin. Thứ năm, số lượng và cơ cấu lao động trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng sẽ có sự thay đổi lớn.
Việc sử dụng các ứng dụng, các công nghệ sẽ thay thế cho một số lượng lớn các nhân viên làm việc tại ngân hàng, tổ chức tài chính, các công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm,… Tuy nhiên, yêu cầu về nhân sự lại nâng cao hơn rất nhiều, ngoài yếu tố chuyên môn thì còn đòi hỏi yêu cầu cao về cả yếu tố hiểu biết, áp dụng cũng như như dụng công nghệ, khoa học. Bên cạnh những tác động nêu trên, Fintech cũng mang theo nhiều tiềm ẩn rủi ro như: nguy cơ bị tấn công về mặt công nghệ, rủi ro hệ thống, chưa có những quy định hiện hành có thể theo sát sự phát triển của Fintech hay số lượng các loại hình dịch vụ tài chính mà Fintech cung cấp khá nhiều hay đối với các dịch vụ mới, khách hàng thường có tâm lý e ngại, bối rối vì không hiểu hết các các tính năng, cơ chế hoạt động cũng như các quyền lợi và nghĩa vụ của mình. Tuy nhiên, những rủi ro này là không đáng kể so với những lợi ích to lớn mà Fintech mang lại. Thực tế đã và đang xảy ra cho thấy, những tác động của Fintech đến ngành tài chính – ngân hàng là không thể phủ nhận được.
Bất cứ một công nghệ mới nào cũng có hai mặt tích cực và tiêu cực của nó, mà chúng ta lại không thể phủ nhận được nên cách tốt nhất là phải dung hòa được hai mặt đó, phát huy những mặt tích cực một cách tối đa và tối thiểu hóa rủi ro. Không thể phủ nhận được sức nóng của Fintech hiện nay, nó đã trở thành một trong những lĩnh vực đầu tư tiềm năng trên thị trường. 11 Nếu như trong năm 2013, đầu tư vào Fintech chỉ đạt mức 4 tỷ USD trên toàn cầu thì đến năm 2016, con số này đã tăng lên gấp năm lần, vào khoảng 20 tỷ USD và dự kiến sẽ tăng thêm sáu lần vào năm 2020 và đạt con số 120 tỷ USD. Phát triển Fintech tại NHTM.
Định nghĩa phát triển Fintech tại NHTM. Phát triển Fintech tại NHTM là việc áp dụng công nghệ trong việc cung cấp các sản phẩm – dịch vụ của ngân hàng. Công nghệ số là một trong những xu hướng phát triển về sản phẩm – dịch vụ của các NHTM trong thời gian hiện tại và tiếp tục trong thời gian tới. Việc này sẽ giúp gia tăng việc sử dụng các dịch vụ của ngân hàng, thúc đẩy việc bán các sản phẩm, dịch vụ qua đó gia tăng lợi nhuận của ngân hàng.
Hiện tại, các ngân hàng sử dụng công nghệ từ việc hỗ trợ trong việc quản lý dữ liệu, nâng cao hiệu quả hoạt động, cải tiến các sản phẩm – dịch vụ hiện có và đưa ra những sản phẩm mới.