CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH 1.1 Tổng quan về cạnh tranh 1.1 Lý luận về cạnh tranh Cạnh tranh là sự ganh đua giữa những doanh nghiệp trên một thị trường cụ thể, nhằm giành được khách hàng và thị trường, thông qua đó các doanh nghiệp có thể tiêu thụ được hàng hóa, thu được lợi nhuận, tồn tại được trên thương trường và nâng cao vị thế của mình. Trên thực tế, cạnh tranh diễn ra trên thương trường có 2 loại: cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh. Cạnh tranh không lành mạnh là tìm cách tiêu diệt đối thủ cạnh tranh bằng mọi cách kể cả phải dùng đến những thủ đoạn tiêu cực để đạt được mục đích. Trong khi đó, cạnh tranh lành mạnh, theo Tôn Thất Nguyễn Thiêm: “Cạnh tranh trong thương trường không phải là diệt trừ đối thủ của mình mà chính là phải mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc/và mới lạ hơn để khách hàng lựa chọn mình chứ không lựa chọn các đối thủ cạnh tranh của mình!”.
Ngày nay, ảnh hưởng bởi phát triển của tiến bộ khoa học công nghệ, mức độ, hình thức và cách thức cạnh tranh đã đi đến một ngưỡng mới tinh xảo hơn rất nhiều so với thời gian trước đây. Ở bề nổi, các doanh nghiệp cạnh tranh không những về giá cả mà còn về hình thức sản phẩm, chất lượng sản phẩm, địa điểm trưng bày và tiêu thụ sản phẩm, thời gian cung cấp và sử dụng sản phẩm, đặc biệt là chất lượng của dịch vụ đi kèm với sản phẩm kể cả vào thời điểm trước, trong và sau khi bán sản phẩm… Đằng sau những cạnh tranh bề nổi là những đợt sóng ngầm cạnh tranh về khoa học công nghệ, dây chuyền sản xuất, bản quyền phát minh sáng chế; cạnh tranh về nguồn nhân lực với hàm lượng trí thức cao, tay nghề giỏi… Cạnh tranh diễn ra trong tất cả các khâu của quy trình sản xuất khép kín từ quản lý, vận hành đến thực thi các kế hoạch, mục tiêu của doanh nghiệp. Mục tiêu chiến lược dài hạn của các doanh nghiệp không chỉ là thắng thế trong cạnh tranh mà còn phải phát triển bền vững. Theo Michael Porter: “Muốn thắng thế trong cạnh tranh, doanh nghiệp phải mang đến cho thị trường và khách hàng giá trị gia tăng cao hơn các doanh nghiệp khác”.
Bên cạnh đó, cạnh tranh không phải là một chương trình hành động dành cho một thời điểm hay một giai đoạn nhất định, mà cạnh tranh là một quá trình diễn ra thường xuyên và liên tục. Chính vì vậy, những giá trị gia tăng mà doanh nghiệp tạo ra phải thường xuyên được đổi mới và ngày một tốt hơn thì mới có thể đáp ứng được nhu cầu và làm hài lòng khách hàng và giữ chân được khách hàng của doanh nghiệp. Trong sự biến động ngày càng phức tạp của môi trường cạnh tranh, các doanh nghiệp một mặt ngày càng phải hoàn thiện về mọi mặt để có thể phát huy tối đa những năng lực lõi của bản thân doanh nghiệp nhằm giữ được và phát huy thế mạnh của mình trong cạnh tranh, mặt khác, doanh nghiệp cũng phải nghĩ đến việc liên kết với một số các doanh nghiệp khác để cùng nhau tạo ra được những giá trị cao hơn so với giá trị mà doanh nghiệp đạt được nếu nó hoạt động riêng lẻ. Đó chính là xu hướng hợp tác cạnh tranh – một hình thức mới để nâng cao năng lực cạnh tranh trong giai đoạn hiện nay.2 Năng lực cạnh tranh và lợi thế cạnh tranh 1.1 Năng lực cạnh tranh Khi nói đến năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp là nói đến khả năng nội tại hiện có của một doanh nghiệp đó, nó biểu hiện trên hai mặt lợi thế và yếu thế so với đối thủ cạnh tranh.
Có thể dùng ngắn gọn trong 2 từ để diễn tả nôm na năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp chính là nội lực. Các yếu tố nội lực của doanh nghiệp có thể kể đến là: Năng lực quản lý; Năng lực kinh doanh; Năng lực công nghệ; Chất lượng nguồn nhân lực … Theo Michael Porter: “Năng lực cạnh tranh liên quan đến việc xác định vị trí của doanh nghiệp để phát huy nội lực của mình trước các đối thủ cạnh tranh”. Như vậy, nếu có vũ khí nội lực sắc bén, doanh nghiệp sẽ dễ có được ưu thế trên thương trường và có nhiều khả năng để giành thắng lợi trước các đối thủ cạnh tranh. Khoa học kỹ thuật phát triển không ngừng, do đó áp lực cạnh tranh đối với các doanh nghiệp ngày càng trở nên gay gắt hơn.
Vì vậy, muốn tồn tại và phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh là một trong những yêu cầu tất yếu của doanh nghiệp.2 Lợi thế cạnh tranh Lợi thế cạnh tranh chính là một bộ phận cấu thành tạo nên năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp. Poter: “Lợi thế cạnh tranh về cơ bản xuất phát từ giá trị mà một xí nghiệp có thể tạo ra cho người mua và giá trị đó vượt quá phí tổn của xí nghiệp”. Từ những nét cơ bản trên chúng ta có thể hiểu về lợi thế cạnh tranh như sau: Lợi thế cạnh tranh là những ưu thế nổi bật, một khả năng riêng có của một doanh nghiệp về một mặt nào đó có thể là sản phẩm, phong cách phục vụ, khả năng sản xuất, danh tiếng, chất lượng dịch vụ… khi đưa ra thị trường được khách hàng thừa nhận trong tương quan so sánh với các đối thủ cạnh tranh khác. Trong môi trường cạnh tranh gay gắt, doanh nghiệp nào phát huy những lợi thế cạnh tranh của mình tốt sẽ thắng lợi so với đối thủ cạnh tranh của mình.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến cạnh tranh của doanh nghiệp Ngày nay, doanh nghiệp hoạt động trong môi trường luôn biến động với vô vàn các yếu tố nên khi xây dựng phương hướng cũng như các mục tiêu và chiến lược cạnh tranh, các doanh nghiệp cần phải xác định cho được những điểm mạnh và điểm yếu của mình so với các đối thủ cạnh tranh trong mối tương quan với các cơ hội và nguy cơ mà môi trường vĩ mô mang lại cho toàn ngành.1 Môi trường bên ngoài Môi trường bên ngoài bao gồm môi trường vĩ mô và môi trường vi mô.
Môi trường vĩ mô: Các ảnh hưởng của môi trường vĩ mô đối với hoạt động của doanh nghiệp có thể phân thành 5 loại chủ yếu như sau: Ảnh hưởng về kinh tế: Điều kiện kinh tế của các quốc gia trong khu vực và trên thế giới như: tốc độ tăng trưởng, cơ cấu kinh tế, chính sách tiền tệ, chính sách thuế khóa … và các biến số quan trọng như: tỷ lệ lạm phát, lãi suất ngân hàng, giá trị đồng Đô la Mỹ trên thị trường, mức thu nhập bình quân đầu người … sẽ ảnh hưởng đến chính sách và kế hoạch kinh doanh của các doanh nghiệp. Ảnh hưởng về văn hóa, xã hội, địa lý và nhân khẩu: Những thay đổi của các yếu tố như: Dân số, cơ cấu dân số, lao động, lối sống, trình độ học vấn, tỉ lệ dân cư thành thị/nông thôn,… có ảnh hưởng quan trọng đến sản phẩm, dịch vụ, thị trường và người tiêu thụ. Ảnh hưởng của luật pháp, chính phủ và chính trị: Các chính sách thuế, mức trợ cấp của chính phủ, các luật hoặc quy định được ban hành, sự bất ổn hay diễn biến có lợi của tình hình chính trị, của luật pháp và chính phủ … sẽ tác động mạnh mẽ đến xu hướng, chủ trương hoạt động của các doanh nghiệp. Ảnh hưởng công nghệ: Sự tiến bộ của khoa học công nghệ có thể tác động sâu sắc lên những sản phẩm, dịch vụ, thị trường, nhà cung cấp, nhà phân phối, đối thủ cạnh tranh, khách hàng, quá trình sản xuất, quá trình tiếp thị và vị thế cạnh tranh của các doanh nghiệp… Tiến bộ công nghệ có thể tạo ra những lợi thế cạnh tranh mới, mạnh mẽ hơn các ưu thế hiện có cho doanh nghiệp.
Ảnh hưởng cạnh tranh: Cạnh tranh ngày nay đã mang trong nó những biến thái về hình thức. Cạnh tranh trước đây thường theo cách đối đầu trực tiếp, một bên thắng thì bên còn lại phải thua. Ngày nay, bên cạnh hình thức cổ điển đó, cạnh tranh ngày nay còn có 1 hình thức mới là hợp tác cạnh tranh: các doanh nghiệp xác định là đối thủ của nhau nhưng vẫn có thể bắt tay hợp tác để đôi bên cùng có lợi theo quan điểm và mục tiêu riêng của mình. Môi trường vi mô: Môi trường vi mô là môi trường cạnh tranh của ngành.
Theo Michael Porter, có 5 lực lượng quyết định mức độ cạnh tranh trong ngành, bao gồm: Nguy cơ gia nhập ngành của các đối thủ mới: Khi phân tích đối thủ cạnh tranh, doanh nghiệp không chỉ phân tích các đối thủ chủ yếu hiện tại mà còn phải tính đến các đối thủ tiềm năng sẽ nhập cuộc và tranh giành thị trường. Cường độ cạnh tranh của các đối thủ hiện tại: Hoạt động của các đối thủ hiện tại luôn được xem là một trong những yếu tố có ảnh hưởng quan trọng đến việc xây dựng chiến lược cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp. Áp lực của sản phẩm thay thế: chính là những sản phẩm có cùng một công năng như sản phẩm của ngành mà doanh nghiệp đang hoạt động và khách hàng có thể lựa chọn chúng thay vì sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp. Quyền lực của khách hàng: chính là quyền xem xét, đòi hỏi đối với sản phẩm về giá cả, chất lượng dịch vụ…, và nó sẽ làm hao tổn mức lợi nhuận của ngành.
Quyền lực của người cung ứng: Thể hiện thông qua việc chèn ép, nắm thế chủ động trong việc đưa ra các điều kiện về nguồn cung đầu vào cho ngành. Tuy nhiên, với tư cách là người mua, doanh nghiệp có thể sử dụng quyền lực khách hàng của mình để giành lại một số quyền chủ động.2 Môi trường bên trong Nhóm các yếu tố môi trường bên trong có ảnh hưởng trực tiếp, thường xuyên đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, bao gồm các yếu tố sau: Các yếu tố thuộc về tổ chức: Cơ cấu tổ chức; Cơ chế, chính sách hoạt động; Sắp xếp, bố trí nhân sự; Huấn luyện, đào tạo cán bộ, nhân viên… Các yếu tố thuộc về tài chính: Cơ cấu vốn; Tình hình công nợ; Khả năng thanh toán… Các yếu tố thuộc về cơ sở vật chất: trang thiết bị, nhà xưởng, máy móc, đầu tư công nghệ … Các yếu tố thuộc về hoạt động tác nghiệp: Sản xuất; Tiếp thị; Nghiên cứu phát triển….2 Một số lý luận về năng lực cạnh tranh của các NHTM 1.1 Các nhân tố tác động đến cạnh tranh của các NHTM 1.