CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP FINTECH TỚI ỔN ĐỊNH CỦA HỆ THỐNG NHTM VIỆT NAM 1. Tổng quan về doanh nghiệp Fintech 1. Sự ra đời và tầm quan trọng của các doanh nghiệp Fintech 1. Sự hình thành của doanh nghiệp Fintech Sự kết hợp giữa lĩnh vực công nghệ và kinh doanh tài chính đã diễn ra từ cuối thế kỷ XIX (năm 1866), nhưng thuật ngữ "Fintech” bắt đầu trở lên phổ biến từ những năm 1990 khi Citigroup giới thiệu dự án "Tập đoàn công nghệ dịch vụ tài chính".
Từ đó, loại hình doanh nghiệp đã được ra đời với mục đích thúc đẩy sự kết hợp công nghệ thông tin trong lĩnh vực tài chính. Các doanh nghiệp Fintech thường hướng mục tiêu thu hút khách hàng bằng các sản phẩm và dịch vụ dễ sử dụng, hiệu quả và tự động hơn so với những sản phẩm, dịch vụ truyền thống. Về cơ bản, các sản phẩm mà các doanh nghiệp Fintech cung cấp có thể phân thành các loại hình dịch vụ như: dịch vụ tài chính (huy động vốn, tín dụng), dịch vụ thanh toán (ví điện tử, tiền điện tử,.), quản lý tài sản (tư vấn tự động, quản lí tài chính cá nhân, đầu tư và banking), dịch vụ khác (bảo hiểm, bảo lãnh, giải pháp kỹ thuật, công nghệ). Các doanh nghiệp fintech được phân loại thành 2 nhóm chính: Nhóm thứ nhất: là các công ty cung ứng các cung cụ, sản phẩm kỹ thuật số để tạo ra các sản phẩm tài chính mới cho người dùng, bao gồm tất cả các các sản phẩm Fintech tương ứng với các lĩnh vực hoạt động hiện tại của ngành tài chính- ngân hàng truyền thống gồm: huy động vốn, thanh toán, cho vay, quản lý tài sản và đầu tư.
Trong thanh toán: doanh nghiệp Fintech cung cấp các phương thức thanh toán hiện đại như thanh toán di động, ví điện tử, chuyển tiền ngang hàng. Ngoài ra, các công ty này còn cung cấp các loại tiền ảo thay thế cho tiền truyền thống, điển hình như Bitcoin. Trong huy động vốn: công ty Fintech tạo ra nền tảng gọi vốn trực tuyến từ cộng đồng cho phép người có ý tưởng hoặc dự án sản phẩm nhưng thiếu vốn, có thể huy 8 động vốn từ xã hội. Trên thị trường hiện nay, có nhiều hình thức gọi vốn khác nhau: theo hình thức góp vốn, theo hình thức ủng hộ, theo hình thức có đãi ngộ, theo hình thức phát hành tiền ảo, theo hình thức cho vay.
Trong cho vay: các doanh nghiệp Fintech cung ứng dịch vụ cho vay trực tuyến ngang hàng (P2P), kết nối trực tiếp người đi vay và người cho vay thông qua các nền tảng trực tuyến. Trong lĩnh vực bảo hiểm, Fintech sử dụng mô hình môi giới và mô hình công ty bảo hiểm để giới thiệu các loại hình bảo hiểm phù hợp và cung cấp các giải pháp tốt hơn cho khách hàng thông qua việc áp dụng công nghệ. Trong quản lý tài sản và đầu tư: công ty Fintech cung ứng các giải pháp tư vấn, lựa chọn hình thức và quản lý các khoản đầu tư dựa trên công nghệ thông qua mạng giao dịch xã hội và tư vấn tự động dựa trên các thuật toán. Nhóm thứ hai: là nhóm cung cấp các công cụ hỗ trợ mới và các giải pháp công nghệ, hay còn gọi là nhóm hỗ trợ.
Ví dụ như nhận diện khách hàng, công cụ bảo mật, quản lý và phân tích dữ liệu, quản trị rủi ro, các phần mềm quản lý tài chính cá nhân và doanh nghiệp, quản lý quan hệ khách hàng.Tầm quan trọng của doanh nghiệp Fintech Hiện nay, các doanh nghiệp Fintech đang hoạt động mạnh mẽ tại nhiều quốc gia bằng cách sử dụng các công nghệ tiên tiến nhất để phát triển và cung cấp trực tiếp các SP-DV tài chính. Điều này mang lại nhiều ưu điểm về tính tiện lợi và chi phí cạnh tranh so với các SP-DV tài chính vốn dĩ vẫn được các ngân hàng thương mại truyền thống cung cấp. Đặc biệt kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, mặc dù có ưu thế về quy mô vốn, tổng tài sản và số lượng khách hàng trên phạm vi lãnh thổ rộng lớn nhưng các NHTM vẫn gặp khó khăn trong việc đối phó với nguy cơ giảm thu nhập, thậm chí là bị thôn tính hoặc phá sản. Trong khi đó các DN Fintech lại phát triển có tính bùng nổ tại hầu hết các thị trường tài chính.
Các công ty Fintech thu hút rất lớn sự quan tâm từ các nhà đầu tư thể hiện qua việc quy mô vốn đầu tư vào các công ty này không ngừng tăng lên qua các năm. Theo báo cáo của The Global Fintech Index, năm 2019 trên toàn cầu đã có hơn 7.000 doanh nghiệp Fintech, và tổng giá trị 9 của các hoạt động đầu tư vào lĩnh vực này đã tăng lên đến 150,3 tỷ USD vào năm 2019 (so với 60,2 tỷ USD vào năm 2017) Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đặt ra những yêu cầu mới đối với giao dịch tài chính, bao gồm an toàn, tốc độ, tiện lợi và chi phí thấp, khiến cho người tiêu dùng trở nên khắt khe hơn trong việc lựa chọn tổ chức cung cấp các dịch vụ tài chính. Sự xuất hiện của các doanh nghiệp Fintech, sử dụng công nghệ hiện đại trong giao dịch và có khả năng quản lý rủi ro cao, đã trở thành lựa chọn hấp dẫn hơn cho khách hàng so với các dịch vụ tương tự được các ngân hàng truyền thống cung cấp. Với những ưu thế về công nghệ thông tin, các doanh nghiệp Fintech đã tăng cường chiếm lĩnh thị trường cho vay, cạnh tranh với các NHTM thông qua đáp ứng nhu cầu vay vốn của một bộ phận khách hàng cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ - những khách hàng này các NHTM thường rất ít quan tâm.
Sự "lấn sân" từng bước sang lĩnh vực kinh doanh truyền thông của các NHTM vốn vẫn được hành lang pháp luật bảo hộ cho thấy các áp lực đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng đang ngày càng gia tăng, hoạt động kinh doanh vốn vẫn được xem là "vùng cấm" có xu hướng ngày càng bị thu hẹp do những loại hình dịch vụ tài chính mới được chính các doanh nghiệp Fintech sáng tạo ra và cung cấp cho người tiêu dùng không ngừng tăng lên vượt qua các rào cản pháp luật. Mặc dù những năm gần đây, các Fintech đã gây ra những tác động tiêu cực nhất định đối với một số nên kinh tế, khiến chính phủ nhiều nước đưa ra các qui định ngăn cấm các doanh nghiệp Fintech hoạt động P2P (Huỳnh Thu Hiền,2019), nhưng nó cũng cho thấy tầm quan trọng của các doanh nghiệp Fintech trong đáp ứng nhu cầu của một bộ phận đông đảo người vay trong nền kinh tế vốn không được các NHTM để ý, đặc biệt là tại các nước đang phát triển. Với ưu thế nắm bắt công nghệ hiện đại, lại được sự hậu thuẫn của các nhà đầu tư trên toàn cầu, hoạt động của các doanh nghiệp Fintech được dự báo sẽ ngày càng đẩy mạnh nghiên cứu triển khai các sản phẩm dịch vụ tài chính mới, tiện ích, thu hút lượng người dùng ngày càng tăng lên. Theo Prasad (2019) thì các doanh nghiệp Fintech đang đi tiên phong trong cuộc cách mạng 4.0 trong khu vực tài chính, mang đến sự tiện ích cho khách hàng thông qua sự phát triển của công nghệ thông tin, làm thay đổi các kênh dịch vụ tài chính truyền thống, giúp người sử dụng tiết kiệm thời gian và chi phí qua các kênh qua Internet.
10 Việc ứng dụng công nghệ “Big Data” để phân tích hành vi của khách hàng có thể giúp các doanh nghiệp Fintech giảm chi phí và nâng cao chất lượng dịch vụ tài chính. Arer và các cộng sự (2020) cho rằng hoạt động Fintech là động lực chính thúc đây sự phát triển tài chính toàn diện, qua đó tạo nền tảng cho việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc (SDGs). Về bản chất, tài chính toàn diện là một công cụ bình đẳng, cho phép mọi công dân đóng góp vào tăng trưởng kinh tế và thu được lợi ích từ đó (Kapoor, 2014). Nhưng để mọi công dân có điều kiện đóng góp vào tăng trưởng kinh tế thì trước tiên họ phải có vốn để đầu tư và tài chính toàn diện thông qua các doanh nghiệp Fintech sẽ giúp mọi người dân có thể tiếp cận vốn vay để phục vụ mục tiêu kinh doanh với lãi suất vừa phải - mức lãi suất này mặc dù cao hơn so với mức lãi suất do các NHTM áp dụng, nhưng nếu so sánh với mức lãi suất từ tín dụng đen thì lại thấp hơn nhiều.
Như vậy, hoạt động doanh nghiệp Fintech sẽ là giải pháp tốt nhằm thúc đầy sự phát triển tài chính toàn diện, các doanh nghiệp này có thể thay thế hoạt động ngân hàng truyền thống bằng cách cung cấp các SP- DV ít tốn kém hơn và hiệu quả hơn đáng kể. Tổng quan về sự ổn định của hệ thống NHTM 1.Khái niệm Sự ổn định của hệ thống ngân hàng luôn là một trong những mối quan tâm hàng đầu của các nhà quản lí ngân hàng, tổ chức tài chính. Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về ổn định hệ thống ngân hàng, nhưng vẫn chưa có sự thống nhất chung cho khái niệm này. Có hai hình thức mà các nhà nghiên cứu sử dụng nhiều nhất khi phân tích về ổn định ngân hàng đó là đánh giá thông qua khái niệm “ổn định tài chính” liên quan đến lĩnh vực ngân hàng.
Hoặc là phân tích gián tiếp thông qua “bất ổn ngân hàng” (bank instability) và bất ổn ngân hàng chính là trạng thái ngược của ổn định ngân hàng. Nghiên cứu của Goodhart (2006) định nghĩa: “ổn định tài chính là sự thiếu vắng của khủng hoảng tài chính, trong đó khủng hoảng tài chính được coi là một chuỗi các sự kiện hoặc rủi ro làm suy yếu hệ thống trung gian tín dụng và ảnh hưởng đến nguồn phân bổ vốn”. Bên cạnh đó, Wood và Allen (2006) chỉ ra một số đặc trưng nổi bật của ổn định tài chính như: trạng thái có thể quan sát được; tình trạng có lợi cho công 11 chúng; tài sản của một thực thể trong nhiều trường hợp là tài sản của quốc gia; chịu sự kiểm soát bởi các cơ quan nhà nước; không nên cho rằng bất kỳ sự thay đổi nào cũng là bằng chứng của bất ổn tài chính vì các nền kinh tế và hệ thống tài chính cần thay đổi để tăng trưởng. Trong khi đó, Mishkin (1992) lại cho rằng: “ổn định tài chính là sự phổ biến của một hệ thống tài chính, có thể đảm bảo một cách lâu dài và không có sự gián đoạn lớn, việc phân bổ tiết kiệm hiệu quả cho các cơ hội đầu tư”.