Chương 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu và cơ sở lý luận về tác động của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam — EU đến xuất khâu cả phê Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Đánh giá tác động của EVFTA đến hoạt động xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang thị trường EU Chương 4: Khuyến nghị và giải pháp nâng cao xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang thị trường EU CHUONG 1. TONG QUAN TÀI LIEU NGHIÊN CUU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE TÁC ĐỘNG CUA HIỆP ĐỊNH THUONG MẠI TU DO VIET NAM - EU (EVFTA) DEN XUAT KHẨU CÀ PHÊ 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 1. Nghiên cứu về tác động của EVFTA đến nền kinh tế của các nưóc thành viên Đối với các nước đang phát triển, mục tiêu quan trọng nhất của một EVFTA là tự do hóa thương mai và do vậy các tác động thương mại của một EVFTA là một van đề thu hút sự quan tâm của chính phủ và các doanh nghiệp trong các nước dé thúc đây, nâng cao hiệu quả các hoạt động thương mại.
Report “Sustainable impact assessment EU - Vietnam FTA” (Đánh giá tac động dài han của Hiệp định thương mai tự do Việt Nam — Liên minh Châu Âu); cho thay FTA với EU sẽ tạo ra lợi ích cho Việt Nam và sẽ góp phần thúc day tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, lợi ích do mô hình đưa ra có thể còn gắn với những yếu tố tăng trưởng kinh tế vốn có của Việt Nam (sản lượng và thu nhập của nền kinh tế trong quá trình thực thi) điều đó có nghĩa là lộ trình tăng trưởng của Việt Nam có thé vẫn diễn ra như vậy dù có hay không có FTA với EU. Sự tăng trưởng này phụ thuộc vào luồng vốn đầu tư vào và việc cải tiến năng suất hiện nay. Cần lưu ý rằng vốn được thu hút vào, được phân bô hợp lý và được sử dụng hiệu quả.
Một hiệp định FTA với EU sẽ góp phần vào việc này. Theo Viner (1950), Plummer và cộng sự (2010), Dominick (2007) và Negais (2009), EVFTA thúc day thương mại giữa các quốc gia thành viên khi có sự dich chuyền tiêu dùng từ quốc gia này sang quốc gia khác, từ quốc gia có chi phi sản xuất thấp sang nước có chỉ phí sản xuất cao do có sự tự do hóa thương mại. Bên cạnh đó, EVFTA có vai trò quan trọng trong việc tạo ra thang dư tiêu dùng và phúc lợi của các quốc gia thành viên. Ngược lại, sự khác biệt giữa các quốc gia thành viên đối với các quốc gia không phải thành viên EVFTA có thé làm chuyên hướng các dòng thương mại khi các hàng rào thuê quan và phi thuê quan chỉ được dỡ bỏ đôi với các nước thành viên.
Do vậy các nước sẽ ưu tiên các hoạt động thương mại đối với các quốc gia cùng là thành viên hơn đối với các quốc gia không phải là thành viên. Ngược lại đối với nhập khâu cũng sẽ có sự chuyên hướng về các quốc gia thành viên do được hưởng ưu đãi về thuế quan. Trên cơ sở đó, một EVFTA chuyền hướng thương mại có tác động hai chiều hoặc giúp cải thiện hoặc làm ảnh hưởng tới phúc lợi của các quốc gia thành viên tùy thuộc vào sức mạnh tương quan của hai lực lượng đối lập này. Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực của EVFTA, có một số thách thức mà các nước thành viên EVFTA phải đối điện như: - EVFTA là lực chọn tốt thứ hai do tự do hóa đa phương do có sự phân biệt giữa các nước là thành viên và không phải thành viên.
- EVFTA gây ra sự chệch hướng thương mại và có thể làm giảm phúc lợi. - Các quy tắc xuất xứ ngày càng phức tạp do các quy định không thống nhất và chồng chéo lên nhau gây khó khăn cho các chính phủ tuân thủ EVFTA nói chung và các doanh nghiệp nói riêng. Nghiên cứu về tác động của EVFTA đến nền kinh tế Việt Nam Phạm Việt Thắng (2020), Hiệp định EVFTA và những cơ hội, thách thức đối với Việt Nam trong quan hệ thương mại với EU. Nghiên cứu đã chỉ ra các cơ hội và thách thức đối với thương mai hang hóa của Việt Nam khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực, từ đó đưa ra được các giải pháp và các kiến nghị về mặt chính sách đối với doanh nghiệp.
Phân tích “Tác động của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU đến xuất nhập khẩu của các ngành công nghiệp Việt Nam” của Pham Ngọc Phong, Dang Thùy Linh và Nguyễn Thị Ánh Ngọc trên Tạp chí Phát triển và Hội nhập (12/2016). Các nghiên cứu ở trên đã đề cập đến các mối quan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam với EU, bên cạnh đó còn đề cập đến triển vọng phát triển mối quan hệ này ở góc nhìn vĩ mô của toàn bộ nền kinh tế. Ở một số nghiên cứu khác đã có đề cập đến xuất nhập khẩu của Việt Nam - EU và tập trung chủ yếu vào một số ngành công nghiệp chủ đạo. Đối với Hiệp định EVFTA, các nghiên cứu cũng chỉ ra được các động cơ tham gia vào hiệp định của EU, đê cập đên các điêm cân phải cân nhắc của Việt Nam nhằm đưa ra các giải pháp khắc phục cũng như đề cập đến cộng đồng doanh nghiệp của Việt Nam, về các tác động đến thương mại, các quan ngại và hy vọng, các cơ hội thách thức đặt ra và từ đó đưa ra các giải pháp kiến nghị về mặt chính sách.
Chi tiết hon tại nghiên cứu “Đánh giá tác động theo ngành của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU: Sử dụng các chỉ sé thương mại”, tác giả đã sử dụng các chỉ sé thuong mai gom: ty trong xuất nhập khẩu, giá trị, chỉ số lợi thế so sánh hiện hữu (RCA) dé đánh giá các tác động theo các ngành khác nhau chia theo mã HS gồm có 19 nhóm. Nghiên cứu về tác động của EVFTA đến một số ngành hàng Việt Nam đã có nhiều bài nghiên cứu. “Đánh giá tác động theo ngành của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU: Sử dụng các chỉ số thương mại” (Vũ Thanh Hương và Nguyễn Thị Minh Phương, 2016) sử dụng phương pháp chỉ số thương mại để đánh giá tác động tiềm tang của EVFTA, các chi SỐ thương mại bao gồm: giá trị, chỉ số lợi thế so sánh hiện hữu (RCA), tỷ trọng xuất nhập khẩu và chỉ số chuyên môn hóa xuất khẩu (ES) lên 19 nhóm hang, trong đó có nhóm 16 (HS84 - HS85): máy móc, thiết bị cơ khí và điện tử. Kết quả cho thay trong giai doan 2001-2015, tong kim ngach xuất khẩu nhập khẩu của Việt Nam với EU đều tăng trưởng đều; thương mại giữa Việt Nam và EU hầu như chỉ mang tính liên nganh do lợi thế so sánh, cơ cấu xuất nhập khẩu và chuyên môn hóa xuất khẩu của hai bên khác nhau rõ rệt.
Đặc biệt, nganh may móc thiét bi, thương mai nội ngành diễn ra ở mức độ cao. Bên cạnh đó, Vũ Thanh Hương và Phạm Minh Tuyết với bài nghiên cứu “An application of the SMART model to assess impacts of the EVFTA on Vietnam's imports of automobiles from the EU” (Vu Thanh Huong, Pham Minh Tuyet, 2017) đã đánh gia tac động của EVFTA về việc nhập khẩu 6 tô của Việt Nam từ EU bang mô hình SMART với hai kịch bản. Kết quả chỉ ra rằng EVFTA sẽ dẫn đến sự gia tăng đáng ké trong nhập khẩu ô tô của Việt Nam từ EU. Tuy nhiên, khi Việt Nam cũng mở rộng phạm vi loại bỏ thuế quan sang ASEAN + 3, việc giảm nhập khâu ô tô Việt Nam từ EU sẽ rất đáng kể.
Một phát hiện quan trọng khác là việc phân phối không đồng đều ở Việt Nam Nhập khẩu 6 tô b6 sung từ EU theo quốc gia, nhóm 6 tô và sản phẩm 6 tô sẽ xảy ra khi EVFTA có hiệu lực. Trong cả hai kịch bản (Kịch bản 1: Việt Nam cắt giảm thuế nhập khẩu đối với mặt hang ô tô nhập khẩu từ EU mà không quan tâm đến các hiệp định thương mại khác; Kịch bản 2: Việt Nam cắt giảm thuế nhập khẩu đối với các mặt hàng từ EU và ASEAN 3+), hiệu ứng tạo thương mại đều cao hơn hiệu ứng chuyên hướng thương mai va do đó, EVFTA có thé nang cao phúc lợi của Việt Nam. Từ đó, bai nghiên cứu đưa ra một sỐ khuyến nghị cho chính phủ và các doanh nghiệp trong nước. Bên cạnh đó, Võ Tất Thắng và các cộng sự da thực hiện nghiên cứu “European Union-Vietnam Free Trade Agreement and Vietnam's Footwear” (Vo Tat Thang, Nguyen Trong Hoai, 2018), sử dung mô hình SMART dé đánh giá độ co giãn của cung xuất khâu va cầu nhập khâu, độ co giãn thay thế nhập khâu với số liệu thương mại và thuế quan năm 2015 của WITS trong năm nhóm chính của ngành công nghiệp giày dép (6401, 6402, 6403, 6404, 6405, 6406).
Và đưa ra hai kịch bản: kịch bản thứ nhất là thực thi EVFTA với việc loại bỏ thuế quan và 'quy tắc xuất xứ' (mức thuế giảm xuống 0%); kịch ban thứ hai là thực thi EVFTA với việc loại bỏ thuế quan và quy tắc xuất xứ (thuế giảm xuống còn 0%), nhưng chính sách chống bán phá giá vẫn được áp dụng (với thuế chống bán phá giá được đặt ở mức 10% như được áp dụng trong giai đoạn 2005-2011 và được áp dụng lại từ năm 2016). Kết quả cho thấy dưới sự thực thi của EVFTA, xóa bỏ hàng rào thuế quan nhập khẩu của EU với hàng hóa nhập khâu từ Việt Nam xuống 0% thì giá trị xuất khẩu của các sản pham giày dép Việt Nam tăng 4,96% từ khoảng 3,98 tỷ USD lên 4,17 tỷ USD. Ngược lại, do chính sách thuế chống bán phá giá, mức tăng này dường như thấp hơn trong kịch bản thứ hai với số tiền 166,11 triệu USD (tương đương tỷ lệ 4,18%). Nghiên cứu tác động của EVFTA đến xuất khẩu cà phê của Việt Nam Hiện nay, có nhiều nghiên cứu về hoạt động xuất khâu ngành hàng cà phê của Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu như sau: Nguyễn Hoàng Anh Huy (2006), Định hướng chiến lược xuất khẩu của công ty Trung Nguyên vào thị trường Cộng Hòa Liên Bang Đức đến 2015, luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM đã nêu lên được những đặc tính của thị trường Châu Âu và có những định hướng chiến lược xuất khẩu cà phê.
Riêng đề tài của tác giả đã kết hợp những tính đặc thù của thị trường Châu Âu kết hợp đưa ra một số chiến lược. Đặc biệt là chiến lược về việc nâng cao chất lượng của sản phẩm dé thúc đây xuất khâu sang thị trường Châu Âu kết hợp với nâng cao giá trị sản phẩm dé mang lại lợi nhuận cao nhất.