MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việc tối đa hóa hiệu quả trong hoạt động kinh doanh luôn là mục tiêu hướng đến hàng đầu của đa số các doanh nghiệp. Để đạt được hiệu quả này, doanh nghiệp có thể sử dụng rất nhiều các cách thức khác nhau bao gồm cả yếu tố vi mô và vĩ mô, một trong số chúng có thể kể đến là đòn bẩy tài chính. Đối với việc sử dụng nợ, tuy doanh nghiệp sẽ mở ra thêm nhiều cơ hội về đầu tư hay đáp ứng nhu cầu riêng về vốn nhưng họ sẽ phải đổi mặt với áp lực về việc trả nợ, trả lãi vay.
Theo đó, việc sử dụng đòn bẩy tài chính luôn đặt ra một câu hỏi rằng, liệu nó tác động tốt hay xấu tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp vì nó phụ thuộc và nhiều yếu tố như ngành nghề, tỷ lệ phân chia nợ và vốn, …. Hiện nay, theo nhiều đánh giá, ngành xây dựng vẫn luôn là một trong những ngành dẫn đầu về tiềm năng phát triển, bởi lẽ Việt Nam vẫn còn nhiều cơ hội để khai thác cho ngành này ví dụ như nhu cầu nhà ở do tốc độ tăng dân số ở mức cao, nhu cầu về điện, nước, giao thông đi kèm với các dự án xây dựng đầu tư công hay nhu cầu xây dựng khách sạn nghỉ dưỡng cho sự bùng nổ về du lịch tại Việt Nam,…. Tất cả điều đó luôn thúc đẩy cho sự phát triển của ngành xây dựng cũng như sự gia tăng về nhu cầu vốn để chi trả cho việc mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Theo đó thì việc sử dụng nợ vay với nhóm ngành này cũng cần phải có những nghiên cứu cụ thể, chuyên sâu và có tính khoa học để xác định việc có hay không mối quan hệ giữa sử dụng đòn bẩy tài chính và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, và đó là mối quan hệ gì.
Theo đó, việc đưa ra các khuyến nghị cho những nhà quản trị doanh nghiệp để đánh giá đúng và kịp thời đối phó với các vấn đề mà nhóm ngành đang gặp phải trong cấu trúc vốn là điều rất quan trọng. Từ những luận điểm trên, em đã lựa chọn đề tài “ Ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính tới hiệu quả hoạt động của các công ty ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp. Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu tập trung làm rõ những luận điểm sau: 1 Thứ nhất, nghiên cứu đưa ra các cơ sở lý luận về chủ đề ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, qua đó xây dựng một nền tảng lý luận từ những nghiên cứu đi trước. Tiếp theo, nghiên cứu đã đưa ra thực trạng về việc dùng đòn bẩy tài chính và hiệu quả hoạt động của nhóm doanh nghiệp ngành xây dựng, đồng thời phân tích thực nghiệm về những ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp ngành xây dựng đã được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Cuối cùng, nghiên cứu đưa ra các khuyến nghị đối với nhà quản trị công ty.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu tập trung làm rõ là mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp ngành xây dựng. Phạm vi nghiên cứu theo không gian của bài viết là các doanh nghiệp xây dựng được niêm yết trên sàn HOSE, HNX, UPCOM tại Việt Nam Phạm vi nghiên cứu theo thời gian của bài viết là khoảng thời gian 9 năm từ năm 2012-2020. Phƣơng pháp nghiên cứu Nghiên cứu tập hợp dữ liệu từ Báo cáo tài chính đã được kiểm toán tại 31 công ty trong 9 năm từ 2012-2020 và các số liệu trong ngành được đã được tổng hợp, có trích nguồn mỗi khi sử dụng. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích số liệu là phương pháp tính tỷ số nhằm đo lường các biến phụ thuộc (ROA, ROE), biến độc lập như tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu (FL), hệ số thanh toán nhanh (CR),… và biến kiểm soát như vòng quay tổng tài sản (TURN), quy mô công ty (SIZE),….
Phương pháp thống kê là sử dụng các phương pháp thống kê mô tả, các kiểm định hồi quy poold OLS, FEM, REM, GLS các kiểm định khuyết tật đa cộng tuyến, phương sai sai số thay đổi, tự tương quan được thực hiện trên phần mềm Stata 14. Bố cục đề tài Nghiên cứu bao gồm 4 chương như sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết về ảnh hƣởng của đòn bẩy tài chính tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và tổng quan nghiên cứu 2 Chƣơng 2: Thực trạng sử dụng đòn bẩy tài chính và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp ngành xây dựng tại Việt Nam Chƣơng 3: Mô hình đánh giá tác động của đòn bẩy tài chính đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam Chƣơng 4: Kết luận và khuyến nghị 3 Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết về ảnh hƣởng của đòn bẩy tài chính tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và tổng quan nghiên cứu 1.1 Khái quát về đòn bẩy tài chính 1.1 Khái niệm đòn bẩy tài chính Đòn bẩy tài chính là mức độ sử dụng vốn vay trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp nhằm hy vọng gia tăng tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) hay thu nhập trên một cổ phần thường (EPS). Khoản vốn này thuộc vào nguồn vốn của công ty trong bảng cân đối kế toán. Một trong những ưu điểm lớn nhất của việc dùng nợ thay cho vốn chủ sở hữu đó là lãi suất mà công ty phải trả trên nợ được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp.
Trong khi đó thì cổ tức hay các hình thức thưởng khác cho chủ sở hữu vẫn bị đánh khoản thuế này. Nếu chúng ta thay vốn chủ sở hữu bằng nợ thì sẽ giảm được thuế công ty phải trả, và vì thế tăng giá trị của công ty lên. Theo đó, các khoản tiền lãi vay phải trả được coi là khoản chi phí hợp lý và được tính trừ vào thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp, tạo ra lá chắn thuế, giúp số tiền thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp ít đi và làm gia tăng lợi nhuận. Do đó, khi tăng nợ tức là giảm chi phí sinh ra trên một đồng tiền mặt và vì thế tăng cao lợi nhuận, cũng như giá trị của công ty.
Về mặt tiêu cực, công ty càng nợ nhiều thì càng có nguy cơ cao mất khả năng hoàn thành nghĩa vụ trả nợ. Nói cách khác, nợ quá nhiều sẽ dẫn tới xác suất phá sản và kiệt quệ tài chính cao. Mặt khác, khi công ty vay nợ, chủ nợ và chủ sở hữu cổ phần của công ty có thể gặp phải những xung đột về quyền lợi. Chủ nợ có thể muốn công ty thực hiện các khoản đầu tư ít rủi ro hơn so với mong muốn của những người đầu tư vào cổ phiếu của công ty.2 Các xác định đòn bẩy tài chính Việc xác định đòn bẩy tài chính luôn được các nhà đầu tư quan tâm, và dành thời gian nghiên cứu thông qua bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp với mục tiêu xác định được đâu là nguồn vốn huy động chính của doanh nghiệp giữa vốn vay và vốn chủ sở hữu.
Theo đó, có nhiều cách để nhà đầu tư đánh giá được việc sử dụng đòn bẩy tài chính như sau. Hệ số Nợ/Tổng tài sản 4 Hệ số nợ trên tổng tài sản (D/A) đo lường mức độ sử dụng nợ vay của doanh nghiệp để tài trợ cho tổng tài sản đó. Điều này có nghĩa tổng số tài sản hiện tại của doanh nghiệp được tài trợ khoảng bao nhiêu phần trăm là nợ vay. Hệ số này nếu cao thể hiện sự bất lợi đối với các chủ nợ nhưng lại có lợi cho chủ sở hữu nếu đồng vốn được sử dụng có khả năng sinh lợi cao.
Tuy nhiên, chỉ số này quá thấp cũng có hàm ý cho thấy doanh nghiệp chưa tận dụng kênh huy động vốn bằng nợ, tức chưa khai thác tốt đòn bẩy tài chính. Hệ số nợ vay trên tổng tài sản nó phụ thuộc rất nhiều yếu tố: loại hình doanh nghiệp, quy mô của doanh nghiệp, lĩnh vực hoạt động, mục đích vay. Vì vậy, muốn biết được tỷ số này cao hay thấp còn phải so sánh với tỷ số trung bình ngành. Để có thể nhận xét đúng đắn về hệ số tổng nợ trên tổng tài sản cần phải kết hợp với các tỷ số khác, nhưng nếu hệ số tổng nợ trên tổng tài sản cao, thì chúng ta có thể kết luận trong tương lai doanh nghiệp sẽ khó huy động được tiền vay để tiến hành sản xuất, kinh doanh.
Hệ số Nợ/Vốn chủ sở hữu Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu (D/E) phản ánh quy mô tài chính của doanh nghiệp, ta biết được tỷ lệ nợ và vốn chủ sở hữu mà doanh nghiệp sử dụng để chi trả cho hoạt động của mình. Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu là một trong những tỷ lệ đòn bẩy tài chính thông dụng nhất. Nếu D/E lớn hơn 1 nghĩa là doanh nghiệp đi vay mượn nhiều hơn số vốn hiện có, doanh nghiệp có thể gặp rủi ro trong việc trả nợ và rủi ro biến động lãi suất ngân hàng. Tuy nhiên, việc sử dụng nợ cũng có ưu điểm nhất định, đó là chi phí lãi vay sẽ được trừ vào thuế thu nhập doanh nghiệp.
Vì vậy, D/E thấp có thể hàm ý doanh nghiệp chịu độ rủi ro thấp trong việc trả nợ nhưng nó cũng có thể chứng tỏ doanh nghiệp chưa biết cách vay nợ để kinh doanh và đặc biệt là khai thác lợi ích của hiệu quả tiết kiệm thuế. Do đó, doanh nghiệp phải cân nhắc giữa rủi ro về tài chính và ưu điểm của vay nợ để đảm bảo một tỷ lệ hợp lý nhất. 5 Hệ số chi trả lãi vay Hệ số chi trả lãi vay cho biết mức độ lợi nhuận trước thuế và lãi vay khi đảm bảo khả năng trả lãi của một doanh nghiệp. Hệ số này thể hiện mỗi đồng chi phí lãi vay sẵn sàng được bù đắp bằng bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT).
Chỉ tiêu này mà càng cao thể hiện khả năng bù đắp chi phí lãi vay càng tốt. Tỷ số trên nếu lớn hơn 1 thì doanh nghiệp hoàn toàn có khả năng trả lãi vay của mình. Nếu nhỏ hơn 1 thì chứng tỏ hoặc doanh nghiệp đã vay quá nhiều so với khả năng của mình, hoặc doanh nghiệp kinh doanh kém đến mức lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT) thu được không đủ trả lãi vay. Có nhiều ý kiến khác nhau về việc đi vay hay giữ nợ là dấu hiệu tốt hay xấu.