phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương: Chƣơng I: Cơ sở lý luận về Đô thị hoá và tác động của Đô thị hoá tới phát triển bền vững về môi trƣờng Chƣơng II: Tác động của Đô thị hoá tới phát triển bền vững về môi trƣờng ở Việt Nam. Chƣơng III: Giải pháp nhằm thực hiện Đô thị hoá gắn với phát triển bền vững về môi trƣờng ở Việt Nam trong thời gian tới 3 CHƢƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÔ THỊ HOÁ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐÔ THỊ HOÁ TỚI PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VỀ MÔI TRƢỜNG 1.1 Khái niệm đô thị hoá Nghiên cứu quá trình đô thị hoá có rất nhiều quan điểm được đưa ra về khái niệm đô thị hoá. Có quan điểm cho rằng: Đô thị hoá là quá trình tập trung dân số vào các đô thị, là sự hình thành nhanh chóng các điểm dân cư đô thị trên cơ sở phát triển sản xuất và đời sống. Nhưng cũng có quan điểm cho rằng Đô thị hoá là quá trình dịch cư từ lĩnh vực nông nghiệp sang phi nông nghiệp với biểu hiện bên ngoài là sự tăng trưởng tỷ lệ dân số đô thị, sự nâng cao mức độ trang bị kỹ thuật đô thị.
Một quan điểm khác cũng cho rằng Đô thị hoá là quá trình biến chuyển Kinh tế - Xã hội – văn hoá và không gian lãnh thổ, gắn liền với những tiến bộ về khoa học kỹ thuật của xã hội loài người, trong đó diễn ra sự phát triển nghề nghiệp mới, sự chuyển dịch cơ cấu lao động, sự chuyển đổi lối sống, sự mở rộng không gian thành hệ thống song song với việc tổ chức bộ máy hành chính – chính trị - quân sự. Theo quan điểm của tác giả: Đô thị hoá đó là quá trình biến đổi sâu sắc về cơ cấu sản xuất, cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu tổ chức xã hội, cơ cấu tổ chức không gian kiến trúc xây dựng từ nông thôn sang thành thị tạo nên những trung tâm văn hoá, kinh tế, chính trị của khu vực. Việc phát triển đô thị có thể được thực hiện bằng hai cách, một là cải tạo và mở rộng đô thị hiện có cho phù hợp với yêu cầu phát triển mới; hai là qui hoạch xây dựng đô thị mới ở những địa điểm mới nhằm hỗ trợ cho đô thị cũ đồng thời xây dựng những tiền đề mới cho phát triển.2 Đặc điểm của Đô thị hoá 4 - Đô thị hoá là quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ một nước nông nghiệp sang một nước công nghiệp dưới tác động thúc đẩy của sự phát triển lực lượng sản xuất, khoa học, công nghệ và phân công lao động xã hội, từng bước hình thành nên hệ thống các trung tâm đô thị tách khỏi nông thôn. Những trung tâm này chuyên hoạt động sản xuất công nghiệp, thương mại, dịch vụ; - Quá trình đô thị hoá tạo ra cơ hội gia tăng qui mô dân số tại các đô thị lớn.
Đây có thể được coi là một trong số các nguồn nhân lực đầy tiềm năng để tạo ra hiệu quả kinh tế cao đô thị. Nguồn lao động tại các đô thị không chỉ dồi dào về số lượng mà còn chất lượng khá cao so với mức bình quân chung của quốc gia. Chính lực lượng lao động này đã và đang được xem như là một yếu tố đầu vào cơ bản của quá trình sản xuất thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế đô thị. - Quá trình đô thị hoá không chỉ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đô thị mà còn góp phần tích cực cải thiện đời sống dân cư đô thị và các vùng lân cận.
Thực tế nhờ tốc độ tăng trưởng kinh tế cao mà các đô thị lớn đã tạo ra nhiều cơ hội việc làm mới cho người dân, góp phần quan trọng vào việc nâng cao thu nhập. Khi mức thu nhập bình quân của dân cư tăng lên thì nhu cầu chi tiêu của dân cư đô thị cũng tăng theo nhằm thoả mãn tốt hơn nhu cầu tiêu dùng cá nhân. - Dưới tác động của quá trình đô thị hoá, hệ thống cơ sở hạ tầng đô thị nói chung và hệ thống hạ tầng xã hội nói riêng như các cơ sở y tế, bệnh viện, trường học… của các đô thị đã và đang gia tăng cả về qui mô, số lượng và chất lượng. Lượng vốn đầu tư phát triển xã hội dành cho y tế và hoạt động cứu trợ xã hội của các đô thị ngày càng tăng.
Với những cải thiện đáng kể về cơ sở hạ tầng y tế, cũng như sự nâng cao cả về chất lượng và số lượng của đội 5 ngũ y tá và bác sỹ mà người dân đô thị có thể tiếp cận được một cách dễ dàng hơn tới dịch vụ y tế chất lượng cao. - Quá trình đô thị hoá mang tính tất yếu khách quan không chỉ làm gia tăng hiệu quả kinh tế hội tụ sản xuất và tiêu dùng mà nó còn làm cho qui mô đô thị hội tụ có xu hướng tăng lên. Quá trình đô thị hoá đóng vai trò quan trọng đối với việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đô thị, dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nâng cao mức sống cho người dân đô thị và góp phần tích cực trong việc tạo ra ảnh hưởng lan tỏa tích cực đối với tăng trưởng kinh tế của các vùng kinh tế trọng điểm cũng như của cả nước. - Quá trình đô thị hoá cũng gây ra áp lực quá tải cho hệ thống cơ sở hạ tầng đô thị, gia tăng sức ép về nhà ở, ô nhiễm môi trường đô thị, tăng nguy cơ dẫn đến phát triển kinh tế đô thị không bền vững cũng như sự suy giảm chất lượng môi trường sống của các đô thị sẽ càng lớn.3 Đô thị hoá khu vực và thế giới là xu thế tất yếu Đô thị hoá đã chứng minh đó chính là giải pháp tốt nhất cho sự tiến bộ của loài người, cho sự phát triển kinh tế của các quốc gia trong đó có Việt Nam như nhận định của Liên Hiệp Quốc “Đô thị hoá là giải pháp duy nhất đúng” (Solutions to Urbaniization, Urbanization as Solution).Quá trình đô thị hoá diễn ra trong một giai đoạn dài nhưng phát triển mạnh mẽ nhất từ cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX.
Cho đến nay, quá trình đô thị hoá đang diễn ra mạnh mẽ ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Nếu như trước đây quá trình đô thị hoá chủ yếu diễn ra ở Châu Âu và Bắc Mỹ, thì ngày nay quá trình đó không chỉ diễn ra ở Châu Á, châu Mỹ La Tinh mà còn ở Châu Phi. Theo nghiên cứu của Liên Hiệp Quốc, hiện nay có khoảng 37% người dân Châu Phi sống ở các thành phố và con số này sẽ tăng lên trên 50% trong vòng 20 năm tới. Tuy nhiên tỷ lệ đô thị hoá ở 6 các nước đang phát triển và các nước phát triển lại rất khác nhau.
Đối với các nước phát triển tỷ lệ đô thị hoá đã ở mức ổn định từ 70%-80% và tỷ lệ tăng dân số cũng đã ổn định (thậm chí âm ở một số nước) trong khi đó đối với các nước đang phát triển tỷ lệ này mới xấp xỉ 35% và có những biến động lớn về dân số. Sự tăng trưởng tỷ lệ đô thị hoá trên thế giới được mô tả tại Bảng sau: Bảng I.1: Biểu đồ tăng trƣởng tỷ lệ đô thị hoá trên thế giới 100 Tỷ lệ đô thị hoá (%) 80 60 1975 40 2000 2025 20 0 A frica A sia Euro pe Latin no rth Oceania A merica A merica Các châu lục Nguồn: Quĩ các hoạt động dân số thế giới của Liên hiệp quốc Quá trình đô thị hoá nhanh kéo theo là sự hình thành các thành phố lớn với dân số hàng triệu, thậm chí là hàng chục triệu người. Các thành phố lớn thường là thủ đô của một nước hoặc trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá, thể thao của một vùng. Tuy nhiên quá trình siêu tập trung dân cư này sẽ diễn ra khác nhau.
Các thành phố lớn của các nước công nghiệp phát triển như Tokyo, Paris…qui mô dân số hầu như không có xu hướng gia tăng trong 10 năm tới. Còn tại những nước đang phát triển thì qui mô dân số vẫn có xu hướng gia tăng mạnh. Ví dụ như thành phố Bombay (Ấn Độ) dân số sẽ tăng từ 18 triệu người lên 22 triệu người; thành phố Thượng Hải dân số sẽ tăng từ 14.5 triệu người lên 17 triệu người trong vòng 10 năm tới. Nhắc đến các thành phố lớn người ta thường nói đến vấn nạn mà nó thường mắc phải.
Theo nhận định của Ngân hàng phát triển Châu Á về khó khăn của các thành phố lớn như sau: Thiếu nước sinh hoạt, môi trường ô nhiễm, kẹt xe, gia tăng các khu nhà ổ 7 chuột, tội ác và xung đột xã hội….Tuy nhiên những thành phố lớn cũng có những ưu điểm mà những thành phố vừa và nhỏ không thể có được đó là: Đóng góp cho tổng thu nhập quốc dân ở tỷ lệ cao ví dụ như trường hợp hai thành phố Osaka và Tokyo chiếp 36% GDP của Nhật Bản, thành phố Băng cốc chiếm 37% GDP của Thái Lan, Manila chiếm 24% của Philipines. Như vậy trong xu thế phát triển chung của cả nhân loại, thì đô thị hoá là sự phát triển tất yếu của quá trình phát triển xã hội. Sự ra đời của những thành phố cùng với quá trình hiện đại hoá đô thị làm sản xuất xã hội phát triển mạnh mẽ, đem lại những biến đổi to lớn, toàn diện và sâu sắc trong sự phát triển của tất các các quốc gia, các khu vực trên toàn thế giới. Một điểm cần lưu ý là, khi lực lượng sản xuất càng phát triển, trình độ xã hội hoá càng cao thì tốc độ đô thị hoá và sự ra đời của các thành phố ngày một nhiều.
Nhưng cũng do quá trình đô thị hoá diễn ra với qui mô ngày càng lớn, sẽ làm cho sự phát triển kinh tế-xã hội, tổ chức quản lý đô thị không theo kịp. Bên cạnh đó là sự xuống cấp về môi trường, phá vỡ mục tiêu phát triển bền vững mà xã hội đang theo đuổi.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HOÁ 1.1 Phát triển bền vững trong quá trình đô thị hoá.