Chương 1: Giới thiệu tổng quan nghiên cứu 1. Ð t van đe nghiên cứu Câu hỏi của việc có nên đa dạng hóa hay kh ng, tác động của nó sẽ như thế nào đối với lợi nhuận, hay cấu trúc đa dạng hóa như thế nào là phù hợp sẽ lu n là vấn đề trăn trở được đặt ra cho các nhà quản trị và hoạch định chính sách ngân hàng. Thứ nhat, nếu xét trong một số nghiên cứu về lý thuyết truyền thống, thì sự kết hợp nhuần nhuyễn nhiều loại dịch vụ tài chính khác nhau của đa dạng hóa sẽ làm giảm các khả năng thiệt hại bị phá sinh bởi kiệt quệ tài chính và rủi ro phá sản. Điều này sẽ tạo đà cho sự gia tăng tính sinh lợi cho ngân hàng, và thể hiện đặc điểm của cơ chế lợi nhuận theo quy m ((Diamond, 1984; Ramakrishnan và Thakor, 1984; Boyd và Prescott, 1986 Klein và Saidenberg, 1998).
Tuy nhiên, nếu xét trên nền tảng lý thuyết cổ điển về hành vi quản trị của “lý thuyết người đại diện”, thì lợi ích đa dạng hóa sẽ bị méo mó khi có sự xuất hiện của vai trò tranh chấp quyền lực và mâu thuẫn “người đại diện”. Từ đó, sẽ tạo ra hiệu ứng ngược làm xói mòn đi giá trị đích thực mà đa dạng hóa mang lại, và tiếp đến sẽ làm cho lợi nhuận của ngân hàng ngày càng sụt giảm. Về khía cạnh nghiên cứu thực nghiệm, một mặt, đa dạng hóa với việc tận dụng các lợi ích từ các hoạt động phi truyền thống, sẽ tạo ra cho ngân hàng một cơ chế để giúp ổn định tính thanh khoản và cải thiện hoạt động dự phòng rủi ro nợ (Cornett và các cộng sự, 2002; và Baele, 2007). Điều này c ng được xác nhận bởi Meslier và các tác giả (2010), khi mà các tác giả vận dụng m hình ước lượng các chỉ số tập trung (focus index), đã thể hiện được hướng đi tích cực trong điều chỉnh rủi ro và thúc đẩy hiệu quả hoạt động của ngân hàng.
Mặt khác, đa dạng hóa lại là vấn đề cần được cân nhắc, khi nó gây ra những tổn hại tiềm tàng cho rủi ro kiệt quệ tài chính, và rủi ro phá sản do những hoạt động đầu tư dàn trải và kém hiệu quả (Boot và Schmeits, 2000). Hay như kết quả từ bài nghiên cứu của Stiroh (2004) và Acharya (2006) c ng đều cho thấy một mức tác động tiêu cực 2 có ý nghĩa thống kê từ đa dạng hóa lên lợi nhuận của ngân hàng thương mại. Đặc biệt, ảnh hưởng tiêu cực này được thể hiện rất r trong bối cảnh các nước có thị trường tài chính kém phát triển như Trung Quốc, khi mà cả 4 yếu tố rủi ro khác nhau - tiền gửi, tín dụng, tài sản, và khu vực -, đều cho thấy khả năng làm xói mòn doanh thu và lợi nhuận và gia tăng rủi ro về gánh nặng chi phí (Berger và các cộng sự, 2010). Đồng ý với quan điểm này, Jouida và các cộng sự, (2017) khi nghiên cứu và dữ liệu 412 tổ chức tín dụng của Pháp trong giai đoạn 2002 đến 2012, bằng việc cho phép các biến của hoạt động đa dạng hóa tương tác với nhau để c ng đồng thời tác động lên lợi nhuận của tổ chức tài chính, đã cho thấy một tác động tiêu cực có ý nghĩa thống kê.
R ràng, có thể thấy các bài nghiên cứu thực nghiệm đã cho ra các kết quả kh ng đồng nhất, vì vốn dĩ các phương thức tiếp cận khác nhau và bối cảnh khác nhau sẽ cho ra những tín hiệu khác nhau. Thêm vào đó, hầu hết các bài nghiên cứu về vấn đề này thường chỉ tập trung vào các nước thuộc khu vực Mỹ, và Châu Âu, mà ít được quan tâm ở các nước kém phát triển của khu vực Châu Á, đặc biệt như Việt Nam. Cho nên, bài luận văn này cân nhắc xem xét đánh giá tác động của đa dạng hóa lên lợi nhuận ngân hàng ở bối cảnh các nước Châu Á, mà cụ thể ở đây là Việt Nam, nhằm tìm kiếm một hướng phân tích mới, trong một bối cảnh kh ng gian và thời gian mới. Nếu so sánh với các bài ở Châu Á, thì ngoài bài nghiên cứu của Berger và các cộng sự (2010) dành cho thị trường Trung Quốc, còn có 2 bài của Lee và các cộng sự (2014) và Edirisuriya và các cộng sự (2015), viết về tình hình đa dạng hóa của các nước thuộc khu vực Châu Á Thái Bình Dương và các nước Nam Á.
Các bài này c ng có những kết quả kh ng thống nhất, có lúc tích cực (Lee và các cộng sự, 2014), và c ng có lúc tiêu cực (Berger và các cộng sự ,2010; Edirisuriya và các cộng sự (2015). Tóm lại, đa dạng hóa, tuy đã được đề cập một cách rộng rãi và phổ biến trong các cơ sở lý thuyết của quản trị doanh nghiệp c ng như tài chính hành vi của doanh nghiệp, nhưng khía cạnh này trên phương diện của một ngân hàng thương mại với một cơ chế đặc thù riêng biệt, chịu nhiều sự chi phối của các 3 cơ quan quản lý nhà nước, thì còn nhiều khúc mắc cần được giải đáp, đặc biệt trong trường hợp ngân hàng có nhiều hoạt động đa dạng hóa khác nhau. Thứ hai, bài luận văn này sẽ tiếp tục đi xa hơn nữa khi đưa vào xem xét phân tích thêm tác động hiệu chỉnh đồng thời tiềm tàng của 1 nhân tố nữa đối với lợi nhuận của ngân hàng, đó chính là rủi ro. Theo Acharya và các cộng sự (2009), Ellul và Yerramilli (2013) thì các ngân hàng hiện nay đang hoạt động có vấn đề, khi chỉ mải mê chạy theo lợi nhuận mà quên mất điều chỉnh và quản trị rủi ro, để rồi phải gia tăng gánh nặng nợ xấu và rủi ro mất khả năng thanh toán.
Hậu quả là hiệu suất và lợi nhuận của ngân hàng bị suy giảm. Chính vì vậy, sẽ thật sự là một thiếu sót lớn khi phân tích về khả năng sinh lợi của ngân hàng mà kh ng đưa vào vai trò của rủi ro. Và đây là điều mà hầu hết các bài nghiên cứu về đa dạng hóa ngân hàng ở Việt Nam thường bỏ lỡ, thậm chí cả những bài tiêu biểu gần đây của Nguyễn Thị Cành và Hồ Thị Hồng Minh (2014). Ngoài ra, c ng cần lưu ý rằng, bài luận văn này sẽ tiếp cận phân tích rủi ro đặc biệt nhấn mạnh vào “yếu tố bất ổn định” – đại diện cho xác suất rủi ro của vận hành kh ng ổn định trong quá trình hoạt động và sản xuất của ngân hàng.
Theo Fang và các cộng sự (2011), và Tan (2016) thì yếu tố rủi ro được trích xuất từ đặc tính quy trình hàm sản xuất sẽ mang tính đại diện và nổi bật hơn hẳn so với các chỉ số tài chính rủi ro th ng thường. Thứ ba, bài luận văn này xem xét có được các ước lượng kiểm định tính vững việc xem xét các m hình ở cả hai trạng thái động và tĩnh. Có thể thấy th ng thường, hầu hết các bài nghiên cứu đều tiếp cận m hình phân tích các yếu tố ở cùng 1 khung thời gian, hay còn gọi là phương trình ở trạng thái tĩnh. Tuy nhiên, khi phân tích m hình lợi nhuận của ngân hàng, Berger và cộng sự (2000); Goddard và các cộng sự (2004); Athanasoglou và các cộng sự (2008); Naceur (2011); Thu và Huyền (2014); Hồng, Phong và Thành (2018) đã cho thấy được sự xuất hiện của vấn đề tương quan chuỗi (serial correlation), làm cho lợi nhuận hiệu quả hoạt động trong hiện tại có khả năng thể hiện mức tăng trưởng của hiệu quả trong tương lai.
Do vậy, bài nghiên cứu này cân nhắc phân tích đánh giá tác động của đa dạng hóa 4 lên hiệu quả hoạt động, khi mà có yếu tố trễ xuất hiện ở trong phương trình, hay còn gọi là m hình ở trạng thái động. Tóm lại, bài nghiên cứu này sẽ cố gắng làm sáng tỏ những điểm sau đây. Thứ nhất, với việc sử dụng bộ số liệu cập nhật của các ngân hàng thương mại trích xuất từ bộ số liệu Bankscope, bài luận văn sẽ phân tích tác động của đa dạng hóa lên lợi nhuận trong bối cảnh của thị trường Việt Nam trong giai đoạn 15 năm. Thứ hai, để đánh giá sự thay đổi của khả năng sinh lợi của ngân hàng bài luận văn sẽ phân tích thêm tác động đồng thời của các hình thái của rủi ro bên cạnh chiến lược đa dạng hóa.
Cần lưu ý là rủi ro sẽ được đặc biệt nhấn mạnh bởi một yếu tố mới của “rủi ro bất ổn định” – được trích xuất ra từ phương trình của hàm sản xuất kỹ thuật. Thứ ba, nếu xét trên phương diện kỹ thuật, bài luận văn này sẽ phân tích song song cả hai trạng thái là tĩnh và động thay vì chỉ đơn thuần là một trạng thái tĩnh như những bài nghiên cứu th ng thường trước đó. Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu nghiên cứu tổng quát Bài luận văn này được thực hiện nhằm tìm ra cơ chế tác động đồng thời của: (i) 2 dạng chiến lược đa dạng hóa khác nhau, và (ii) 2 khía cạnh rủi ro – nợ xấu và bất ổn định lên khả năng sinh lợi của hoạt động (hay còn gọi là hiệu quả hoạt động) các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2001-2016.
Thứ hai, mục tiêu nghiên cứu đặt ra kh ng chỉ giải thích cơ chế tác động ở m hình tĩnh th ng thường như ở một số bài nghiên cứu, mà còn tiếp cận được việc phân tích m hình ở trạng thái động (nhân tố quá khứ có thể ước lượng giá trị của hiện tại). Cuối cùng, mục tiêu đặt ra c ng nhằm giải quyết luôn vấn đề nội sinh – sự thiên lệch gây ra làm sai khác kết quả của bài nghiên cứu. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể (i) Đo lường khả năng sinh lợi và chiến lược đa dạng hóa của các ngân hàng thương mại Việt Nam dưới nhiều khía cạnh khác nhau. (đối với 5 khả năng sinh lợi bài luận văn sẽ tiếp cận ước lượng 2 chỉ số - t suất lợi nhuận trên tổng tài sản – ROA và chỉ số biên lợi nhuận trên quy m tổng tài sản – profit margin; còn chiến lược đa dạng hóa sẽ được đo lường bởi 2 chỉ số tập trung quan trọng nhất của hoạt động ngân hàng là: tập trung tiền gửi và tập trung tín dụng.
(ii) Đo lường rủi ro bằng cả hai hình thái khác nhau: (i) rủi ro dựa trên yếu tố tài chính – rủi ro nợ xấu; và (ii) rủi ro bất ổn định – dựa trên khía cạnh của yếu tố chu trình hoạt động của các ngân hàng thương mại.