Chương 1 trình bày tính cấp thiết của đề tài và đề ra mục tiêu của đề tài là đánh giá việc đa dạng hóa thu nhập có mối tương quan như thế nào đến khả năng sinh lời và rủi ro phá sản tại ngân hàng. Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tác động của việc đa dạng hóa thu nhập đến khả năng sinh lời và rủi ro phá sản tại các NHTM Việt Nam. Đề tài sử dụng dữ liệu của 27 NHTM tại Việt Nam. Dữ liệu được thu thập từ các Báo cáo tài chính của 27 NHTM đã được kiểm toán trong khoảng thời gian từ 2013 – 2019.
Kết quả đạt được giúp các nhà quản trị hoạch định chính sách chiến lược nâng cao khả năng sinh lời và giảm thiểu rủi ro tại các NHTM Việt Nam từ nguồn thu nhập ngoài lãi, đồng thời đưa ra định hướng phát triển của ngân hàng. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2. Lý thuyết về đa dạng hóa thu nhập ngân hàng thương mại 2. Khái niệm về đa dạng hóa thu nhập tại các ngân hàng thương mại Theo Đại từ điển kinh tế thị trường thì “đa dạng hoá kinh doanh là sách lược của một doanh nghiệp cùng một lúc kinh doanh từ hai ngành nghề trở lên; doanh nghiệp áp dụng kinh doanh đa dạng tham gia vào hoạt động sản xuất và tiêu thụ nhiều loại hàng hoá và dịch vụ.
Trước tiên, cần chọn phương hướng đa dạng hoá và chọn loại nào để đa dạng hoá thì hữu hiệu hơn. Kinh doanh đa dạng hoá, không những chỉ hạn chế ở chỗ mở rộng chủng loại sản phẩm; mà còn gồm cả mở rộng phạm vi sản xuất và thị trường. Mục đích của nó là để phân tán nguy cơ, tránh cho thị trường của một loại hàng hoá nào đó có biến động, ảnh hưởng đến thu lợi và lợi dụng đầy đủ tiềm lực sản xuất, tiềm lực tiêu thụ của thị trường, dùng sản phẩm phụ và tiết kiệm chi phí tiêu thụ”. Với mục tiêu của bài nghiên cứu, tác giả lựa chọn đa dạng hóa thu nhập tại các NHTM là việc mở rộng, áp dụng nhiều loại dịch vụ khác nhau để có thể tận dụng được nguồn lực tối đa vào việc cung ứng dịch vụ cho khách hàng.
Trong bảng báo cáo tài chính của NHTM thu nhập ngân hàng đến từ hai nguồn: thu nhập từ lãi và thu nhập ngoài lãi. Thu nhập lãi thuần bắt nguồn từ hoạt động kinh doanh truyền thống là huy động để cho vay. Thu nhập ngoài lãi bắt nguồn từ các hoạt động kinh doanh phi truyền thống như: phí, hoa hồng, phí dịch vụ khác,. Trong đó thu nhập từ lãi được coi là nguồn thu chính yếu vì vậy ngân hàng được coi là đa dạng hóa nếu tỷ lệ thu nhập ngoài lãi ngày càng tăng.
Thu nhập từ lãi (Thu nhập lãi thuần) được đo lường bằng chênh lệch giữa lãi ngân hàng thu được từ khách hàng khi cấp tín dụng và lãi huy động ngân hàng phải trả cho khách hàng trong cùng một thời kỳ. Là các khoản thu nhập có tính chất lãi suất. Các khoản thu nhập này không phụ thuộc vào tình hình hoạt động của các bên tham gia mà chỉ phụ thuộc vào số tiền và lãi suất được thỏa thuận giữa hai bên. Các khoản thu từ lãi 9 của ngân hàng ví dụ như: thu lãi tín dụng, thu lãi tiền gửi tại các TCTC khác, lãi từ chiết khấu trái phiếu Chính phủ,… Trong các khoản thu nhập từ lãi thì lãi thu được từ hoạt động tín dụng chiếm tỉ trọng cao nhất bởi hoạt động chính của ngân hàng là cho vay.
Thu nhập ngoài lãi được coi là những khoản thu nhập không đồng nhất từ các hoạt động khác nhau. Thu nhập ngoài lãi là một kênh thu nhập tiềm năng ít phụ thuộc vào điều kiện kinh doanh tổng thể hơn là thu nhập truyền thống. Do đó, việc thực hiện gia tăng thu nhập ngoài lãi làm giảm sự thay đổi theo chu kỳ lợi nhuận và doanh thu của ngân hàng (Stiroh, 2004). Thông thường thu nhập ngoài lãi có được từ 04 nguồn: thu nhập từ hoạt động đầu tư, thu từ dịch vụ kinh doanh ngoại hối của ngân hàng, thu từ các khoản hoa hồng và phí khác (Stiroh, 2004).
Thu từ hoạt động góp vốn, liên doanh với các doanh nghiệp, các tổ chức tài chính tín dụng: Là các khoản thu đầu tư như thu từ chứng khoán đầu tư hay thu từ góp vốn thành lập công ty con ở các NHTM Việt Nam phổ biến hiện nay là thành lập các công ty con như: Công ty chứng khoán, bất động sản, cho thuê tài chính, bảo hiểm,… hoặc góp vốn thành lập mới, mua lại cổ phần trong các doanh nghiệp hay liên doanh với các doanh nghiệp khác thành lập công ty liên doanh, công ty liên kết. Lợi nhuận được chia cuối năm của các công ty này góp phần tạo nên khoản thu đầu tư cho NHTM. Thu từ hoạt động kinh doanh (trading): Là các khoản thu phát sinh từ các hoạt động kinh doanh mua bán của NHTM, có thể từ kinh doanh mua bán chứng khoán, kinh doanh mua bán vàng, kinh doanh mua bán các ngoại tệ khác nhau,. Ngân hàng đạt được lợi nhuận từ việc kinh doanh ngoại hối chủ yếu là do chênh lệch tỷ giá và lãi suất giữa các đồng tiền được mua bán.
Thu từ các khoản hoa hồng và phí dịch vụ: Các khoản thu phí bảo lãnh, phí mở thư tín dụng, phí thu hộ, phí chi hộ, phí chuyển tiền, phí thanh toán,… và các khoản phí hoa hồng như hoa hồng nghiệp vụ “bancassurance” là nghiệp vụ mà các NHTM liên kết với các công ty bảo hiểm để bán chéo các sản phẩm bảo hiểm tại ngân hàng. Thu 1 dịch vụ khác: Là các khoản thu từ các hoạt động phi tín dụng bao gồm: hoạt động ủy thác, phát hành và thanh toán thẻ, dịch vụ chuyển tiền, mua bán nợ, thanh lý tài sản,… 2. Vai trò của đa dạng hóa đến thu nhập của ngân hàng thương mại Trong quá trình hội nhập nền kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng như hiện nay, đòi hỏi các ngân hàng phải có một sự thay đổi về tỷ trọng thu nhập, bằng cách gia tăng tỷ trọng thu nhập ngoài lãi. Theo Đào Lê Kiều Oanh (2012), việc đa dạng hóa thu nhập có một số vai trò như sau: Đối với ngân hàng Đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, từ đó ngân hàng bán chéo các sản phẩm dịch vụ trên cùng một khách hàng, đồng thời ngân hàng có thể mở rộng phạm vi phục vụ của mình đến với nhiều khách hàng hơn.
Vì nhu cầu sống nói chung và nhu cầu đối với các sản phẩm dịch vụ ngân hàng nói riêng là hết sức đa dạng và phong phú. Vì vậy càng nhiều sản phẩm dịch vụ được triển khai sẽ mang lại cho ngân hàng nhiều cơ hội để phát triển. Hơn thế nữa, trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt như hiện nay việc phát triển các dịch vụ cũng góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh cũng như uy tín và vị thế của ngân hàng. Ngân hàng có nhiều sản phẩm, dịch vụ tốt để đáp ứng nhu cầu tối ưu mà nền kinh tế yêu cầu, góp phần củng cố sự lớn mạnh và nâng cao uy tín, vị thế của NHTM trong nền kinh tế Đồng thời, phân tán rủi ro cho ngân hàng.
Nếu như hoạt động tín dụng mang lại nguồn thu ổn định cho ngân hàng nhưng chứa nhiều rủi ro thì hoạt động phi tín dụng chứa ít rủi ro. Làm tăng lợi nhuận của NHTM. Trong hoạt động của một NHTM hiện đại, lợi nhuận không chỉ tập trung chủ yếu từ sản phẩm tín dụng mà còn được khai thác từ các sản phẩm dịch vụ khác. Thúc đẩy quan hệ hợp tác, hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng.
Để phát triển dịch vụ ngân hàng theo hướng hiện đại, các ngân hàng buộc phải có sự liên kết hợp tác với nhau. Cùng với xu thế hội nhập toàn cầu cho phép các ngân hàng 1 trên toàn thế giới có cơ hội hợp tác, liên kết để cùng phát triển, một ngân hàng có thể hoạt động cung cấp dịch vụ đến khắp nơi trên toàn thế giới thông qua sự liên kết với các ngân hàng quốc tế và các tổ chức kinh tế quốc tế Đối với khách hàng Dịch vụ ngân hàng nói chung và dịch vụ phi tín dụng nói riêng đều có những lợi ích to lớn đối với người tiêu dùng, thể hiện ở giác độ sau: Giúp khách hàng tiết kiệm thời gian và chi phí. Khi các dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng phát triển sẽ phục vụ cho hoạt động đời sống cũng như sản xuất kinh doanh của các cá nhân, tổ chức giúp cho họ tiết kiệm được thời gian và chi phí do khắc phục được khó khăn về không gian và thời gian, cũng như năng lực tài chính Cung cấp thông tin kịp thời và hiệu quả thông qua các dịch vụ phi tín dụng, khách hàng không chỉ được đáp ứng các nhu cầu đơn giản nhất của mình mà còn được tư vấn hay nhanh chóng tiếp cận thông tin tin cậy, kịp thời từ đó có thể đưa ra quyết định đúng đắn đem lại hiệu quả cao Giúp khách hàng nâng cao trình độ hiểu biết sử dụng dịch vụ. Các dịch vụ phi tín dụng do ngân hàng cung cấp thường hàm chứa các yếu tố tri thức cao, vì vậy kích thích người tiêu dùng tìm hiểu và tiếp cận với những yếu tố công nghệ hiện đại, giúp nâng cao trình độ nhận thức và hiểu biết của khách hàng Đối với nền kinh tế Góp phần tăng cường sự luân chuyển của dòng vốn trong nền kinh tế thúc đẩy sản xuất, tăng trưởng kinh tế.
Dịch vụ ngân hàng cung cấp có tác động tới tổng thể các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế, từ công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, dịch vụ, xuất nhập khẩu Thúc đẩy nền kinh tế quốc gia nhanh chóng hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Ngày nay, xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế đã được coi là tất yếu. Trong xu hướng đó, từng quốc gia không ngừng khai thác những nguồn lực của mình, chủ động hội nhập vào nền kinh tế chung của khu vực và thế giới. Dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng thúc 1 đẩy nền kinh tế phát triển theo xu hướng nền kinh tế tri thức, bởi nó ứng dụng nhiều thành tựu của công nghệ thông tin.
Đo lường đa dạng hóa thu nhập tại ngân hàng thương mại Đo lường đa dạng hóa thu nhập thông qua tỉ lệ thu nhập thuần ngoài lãi (Non interest Operating Income) Trong bảng báo cáo tài chính của NHTM thu nhập ngân hàng đến từ hai nguồn: thu nhập từ lãi và thu nhập ngoài lãi.