Tác động của đa dạng hoá thu nhập và thu nhập phi tín dụng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần tại việt nam

Tìm hiểu tác động của đa dạng hoá thu nhập và thu nhập phi tín dụng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam.

Chuyên ngành

Tài Chính - Ngân Hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2022

123
5
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Đa Dạng Hóa Thu Nhập Ngân Hàng Tại Việt Nam

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, ngành tài chính Việt Nam chứng kiến sự thay đổi lớn. Cạnh tranh gia tăng thúc đẩy các ngân hàng mở rộng hoạt động, phát triển các mảng kinh doanh mới bên cạnh tín dụng truyền thống. Các ngân hàng đa dạng hóa nguồn thu bằng cách thực hiện các hoạt động thu nhập phi lãi (TNPTD) như tăng phí dịch vụ, phát triển ngân hàng số, bảo lãnh phát hành, kinh doanh chứng khoán, môi giới và ngân hàng đầu tư. Tuy nhiên, dòng nghiên cứu trên thế giới vẫn tranh cãi về chiến lược đa dạng hóa thu nhập của các NHTM. Một số quan điểm cho rằng đa dạng hoá thu nhập sẽ đóng góp vào tăng trưởng giúp các NHTM nâng cao hiệu quả kinh doanh ngân hàng, nguyên nhân là do việc gia tăng TNPTD tạo ra nhiều cơ hội để gia tăng thu nhập hơn, thường ít rủi ro hơn hoạt động kinh doanh truyền thống. Theo Quyết định số 254/QĐ-TTg năm 2012 và Quyết định số 986/QĐ-TTg năm 2018, đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD đề cập đến các chiến lược phát triển ngành Ngân hàng nhận định đa dạng hóa thu nhập là từng bước chuyển dịch mô hình kinh doanh của các ngân hàng theo hướng giảm bớt sự phụ thuộc vào hoạt động tín dụng và tăng TNPTD.

1.1. Xu Hướng Đa Dạng Hóa Thu Nhập Ngân Hàng Hiện Nay

Hoạt động đa dạng hóa thu nhậpTNPTD là mối quan tâm hàng đầu của các nhà quản trị ngân hàng Việt Nam do cạnh tranh gay gắt, thị trường mở rộng, quy định mới trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, chỉ số đa dạng hoá và tỷ lệ TNPTD của các NHTMCP hiện nay còn thấp, cho thấy sự chuyển đổi thu nhập và mô hình kinh doanh theo hướng hiện đại còn gặp nhiều khó khăn. Thực tế chỉ số DIV của NHTMCP Việt Nam trung bình đạt 0,2934 (theo BCTC cúa 27 NHTMCP tại Việt Nam) thấp hơn nhiều so với các NHTM tại Ấn Độ với 0,592; Malaysia (0,521); Philipines (0,556); Thái Lan (0,503); Pakistan (0,533)… (Chen và cộng sự, 2014; Ahamed, 2017).

1.2. Tầm Quan Trọng Của Thu Nhập Phi Lãi TNPTD Với Ngân Hàng

Theo BCTC của 27 NHTMCP tại Việt Nam, tỷ lệ TNPTD trung bình đạt 19,68 thấp hơn nhiều so với Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Philipines,…( Lee và cộng sự, 2014, Meslier và cộng sự, 2014; Ahamed, 2017). Hiện nay, các nghiên cứu tác động của đa dang hóa thu nhập đến HQHĐKD vẫn còn hạn chế về phương pháp, hướng tiếp cận. Hầu hết các quan điểm của các nhà nghiên cứu đều ủng hộ việc tăng thu nhập từ hoạt động phi truyền thống (Lâm Chí Dũng và cộng sự, 2015; Hà Văn Dũng, 2017; Lê Long Hậu và Phạm Xuân Quỳnh, 2017; Trịnh Thị Thúy Hồng và cộng sự, 2018; Nguyễn Thị Đoan Trang, 2019).

II. Thách Thức Rủi Ro Khi Đa Dạng Hóa Thu Nhập Ngân Hàng

Ở chiều ngược lại, một số ý kiến cho rằng thu nhập từ hoạt động kinh doanh truyền thống là rất quan trọng và cốt lõi đối với các NHTM, hoạt động đa dạng hoá chuyển đổi thu nhập theo hướng TNPTD đòi hỏi chi phí cao và việc thiếu kinh nghiệm, khả năng quản trị rủi ro, yếu về công nghệ, nhân lực, rủi ro thị trường… sẽ ảnh hưởng không tốt đến hiệu quả hoạt động ngân hàng của các ngân hàng (Baele và cộng sự, 2007; Lepetit và cộng sự, 2008; Fiordelisi và cộng sự, 2011). Trong khi đó, Sun và cộng sự (2017), Noor và Siddiqui (2019) cho rằng có mối quan hệ phi tuyến giữa tỷ lệ TNPTD và HQHĐKD của các NHTM. Việc tối ưu hoá của tỷ lệ TNPTD là rất quan trọng nhằm tối đa hoá lợi nhuận, kiểm soát rủi ro và gia tăng sức cạng tranh của các NHTM thông qua chiến lược đa dạng hóa thu nhập.

2.1. Chi Phí Yêu Cầu Khi Chuyển Đổi Sang TNPTD

Hoạt động đa dạng hoá chuyển đổi thu nhập theo hướng TNPTD đòi hỏi chi phí cao và việc thiếu kinh nghiệm, khả năng QTRR, yếu về công nghệ, nhân lực, rủi ro thị trường… sẽ ảnh hưởng không tốt đến HQHĐKD của các ngân hàng (Baele và cộng sự, 2007; Lepetit và cộng sự, 2008; Fiordelisi và cộng sự, 2011).

2.2. Mối Quan Hệ Phi Tuyến Giữa TNPTD Hiệu Quả Kinh Doanh

Sun và cộng sự (2017), Noor và Siddiqui (2019) cho rằng có mối quan hệ phi tuyến giữa tỷ lệ TNPTD và HQHĐKD của các NHTM. Việc tối ưu hoá của tỷ lệ TNPTD là rất quan trọng nhằm tối đa hoá lợi nhuận, kiểm soát rủi ro và gia tăng sức cạng tranh của các NHTM thông qua chiến lược đa dạng hóa thu nhập.

2.3. Rủi Ro Tiềm Ẩn Khi Mở Rộng Sang Các Hoạt Động Phi Tín Dụng

Dù cho lợi ích hay hạn chế của chiến lược đa dạng hóa thu nhập, hoạt động đa dạng hoá của các ngân hàng trên thế giới vẫn diễn ra trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng khốc liệt của toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế. Tác động của đa dạng hóa đối với HQHĐKD và rủi ro hoạt động của của NHTM tại thị trường mới nổi và đang phát triển cho những kết quả khác nhau, do các quốc gia này có hệ thống tài chính kém phát triển hơn và cấu trúc thị trường, nền tảng thể chế và quy định và mức độ cạnh tranh của ngân hàng khác nhau (Sanya và Wolfe 2011; Pennathur và cộng sự, 2012; Meslier và cộng sự, 2014).

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Tác Động Đa Dạng Hóa Thu Nhập Ngân Hàng

Nghiên cứu này nhằm mục đích phân tích và đánh giá vai trò của đa dạng hóa thu nhập, TNPTD đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTMCP tại Việt Nam. Dữ liệu nghiên cứu bao gồm 27 NHTMCP tại Việt Nam giai đoạn 2011-2021. Sử dụng phương pháp ước lượng SYS-GMM (System Generalised Method of Moments) của Arellano và cộng sự (1991) cho biến trễ ROA và ROE. Mô hình ngưỡng (Threshold model) của Hansen (1999) được sử dụng để đánh giá tác động phi tuyến của TNPTD đến HQHĐKD của các NHTMCP.

3.1. Dữ Liệu Phạm Vi Nghiên Cứu Về Đa Dạng Hóa Thu Nhập

Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu của 27 NHTMCP tại Việt Nam. Phạm vi thời gian: Nghiên cứu dữ liệu từ báo cáo tài chính (BCTC) hợp nhất đã được kiểm toán của các NHTMCP tại Việt Nam, dữ liệu kinh tế vĩ mô được thu thập từ ngân hàng thế giới (World bank) giai đoạn 2011 - 2021.

3.2. Mô Hình SYS GMM Đánh Giá Tác Động Phi Tuyến TNPTD

Sử dụng phương pháp ước lượng SYS-GMM (System Generalised Method of Moments) của Arellano và cộng sự (1991) cho biến trễ ROA và ROE. Mô hình ngưỡng (Threshold model) của Hansen (1999) được sử dụng để đánh giá tác động phi tuyến của TNPTD đến HQHĐKD của các NHTMCP.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Đa Dạng Hóa Thu Nhập Ngân Hàng

Hồi quy SYS - GMM cho kết quả thú vị đó là ROE của các ngân hàng có thể được cải thiện thông qua chiến lược đa dạng hoá thu nhập. Nhưng đối với ROA thì ngược lại. Thu nhập từ phí dịch vụ, thu nhập từ hoạt động giao dịch và thu nhập khác tác động tích cực đến ROA. Còn đối với ROE cho kết quả ngược lại. Nghiên cứu này vẫn chưa xác định được ngưỡng tỷ lệ TNPTD sẽ đảo chiều tác động đến HQHĐKD, tỷ lệ TNPTD vẫn nằm sườn bên trái chữ U, nhưng nghiên cứu có phát hiện quan trọng ngưỡng tối thiểu để việc gia tăng tỷ lệ TNPTD có lợi cho hoạt động kinh doanh của NHTMCP đo lường bằng ROA và ROE.

4.1. Tác Động Của Đa Dạng Hóa Thu Nhập Đến ROA ROE

Hồi quy SYS - GMM cho kết quả thú vị đó là ROE của các ngân hàng có thể được cải thiện thông qua chiến lược đa dạng hoá thu nhập. Nhưng đối với ROA thì ngược lại. Thu nhập từ phí dịch vụ, thu nhập từ hoạt động giao dịch và thu nhập khác tác động tích cực đến ROA. Còn đối với ROE cho kết quả ngược lại.

4.2. Ngưỡng Tối Thiểu TNPTD Để Cải Thiện Hiệu Quả Kinh Doanh

Nghiên cứu này vẫn chưa xác định được ngưỡng tỷ lệ TNPTD sẽ đảo chiều tác động đến HQHĐKD, tỷ lệ TNPTD vẫn nằm sườn bên trái chữ U, nhưng nghiên cứu có phát hiện quan trọng ngưỡng tối thiểu để việc gia tăng tỷ lệ TNPTD có lợi cho hoạt động kinh doanh của NHTMCP đo lường bằng ROA và ROE.

4.3. Phân Tích Chi Tiết Các Thành Phần TNPTD Ảnh Hưởng ROA

Thu nhập từ phí dịch vụ, thu nhập từ hoạt động giao dịch và thu nhập khác tác động tích cực đến ROA. Còn đối với ROE cho kết quả ngược lại.

V. Hàm Ý Khuyến Nghị Về Đa Dạng Hóa Thu Nhập Ngân Hàng

TNPTD muốn tạo ra ROE cao hơn cần phải tăng cao hơn 27,11% trong ngắn hạn. Nếu có chiến lược cho TNPTD phù hợp kéo tỷ lệ TNPTD tăng lên mức 46,62% thì đạt giá trị tối ưu có lợi tốt nhất cho cả ROA và ROE. Hàm ý đưa ra ở đây là các NHTMCP Việt Nam được khuyến khích tăng mạnh hơn nữa đa dạng hoá thu nhập và tỷ lệ TNPTD. Vận dụng kết quả nghiên cứu trước và kinh nghiệm thực tiễn, học viên khuyến nghị NII mà các NHTMCP Việt Nam cần phấn đấu trong giai đoạn 5 năm tới sẽ là mức 36%.

5.1. Khuyến Nghị Tăng Tỷ Lệ TNPTD Để Tối Ưu ROA ROE

TNPTD muốn tạo ra ROE cao hơn cần phải tăng cao hơn 27,11% trong ngắn hạn. Nếu có chiến lược cho TNPTD phù hợp kéo tỷ lệ TNPTD tăng lên mức 46,62% thì đạt giá trị tối ưu có lợi tốt nhất cho cả ROA và ROE. Hàm ý đưa ra ở đây là các NHTMCP Việt Nam được khuyến khích tăng mạnh hơn nữa đa dạng hoá thu nhập và tỷ lệ TNPTD.

5.2. Mục Tiêu TNPTD Cho NHTMCP Việt Nam Trong 5 Năm Tới

Vận dụng kết quả nghiên cứu trước và kinh nghiệm thực tiễn, học viên khuyến nghị NII mà các NHTMCP Việt Nam cần phấn đấu trong giai đoạn 5 năm tới sẽ là mức 36%. Trong đó ngân hàng có vốn nhà nước cần gia tăng tỷ lệ trên 43% và tối thiểu ít nhất phải là 30%; các ngân hàng tư nhân cần tăng NII tối thiểu là 35%. Các ngân hàng lớn cần phải nỗ lực đạt được NII xấp xỉ 38%, ngân hàng vừa và nhỏ 39% và ngân hàng nhỏ cần có NII tối thiểu 32%.

VI. Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo Về Đa Dạng Hóa Thu Nhập Ngân Hàng

Cập nhật dữ liệu, đánh giá chi tiết cụ thể vai trò của quản trị doanh nghiệp, sở hữu quản trị trong chiến lược đa dạng hoá thu nhập, TNPTD của các NHTM. Đồng thời xác định rõ tác động phi tuyến của TNPTD đến HQHĐKD dựa trên mô hình và dữ liệu cập nhật hơn.

6.1. Vai Trò Quản Trị Doanh Nghiệp Trong Đa Dạng Hóa Thu Nhập

Cập nhật dữ liệu, đánh giá chi tiết cụ thể vai trò của quản trị doanh nghiệp, sở hữu quản trị trong chiến lược đa dạng hoá thu nhập, TNPTD của các NHTM.

6.2. Nghiên Cứu Tác Động Phi Tuyến TNPTD Với Dữ Liệu Cập Nhật

Đồng thời xác định rõ tác động phi tuyến của TNPTD đến HQHĐKD dựa trên mô hình và dữ liệu cập nhật hơn.

09/06/2025
Tác động của đa dạng hoá thu nhập và thu nhập phi tín dụng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần tại việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 1. Lược khảo các công trình nghiên cứu quốc tế 1. Nghiên cứu đa quốc gia Baele và cộng sự (2007) nghiên cứu những ảnh hưởng đa dạng hóa thu nhập đến HQHĐKD và rủi ro của các ngân hàng từ 17 quốc gia Châu Âu giai đoạn 1989 – 2004. Hồi quy GMM cho thấy các ngân hàng đa dạng hoá thu nhập với tỷ lệ TNPTD cao, thì có HQHĐKD tích cực hơn.

Mặc dù vậy, đa dạng hóa các nguồn thu từ hoạt động khác nhau sẽ làm tăng rủi ro cho các NHTM. Theo Mercieca và cộng sự (2007), các NHTM nhỏ tại Châu Âu không thu được lợi ích từ đa dạng hóa thu nhập. TNPTD, thu nhập từ hoạt động giao dịch cao sẽ dẫn đến lợi nhuận của các NHTM thấp hơn, gia tăng rủi ro và làm giảm lợi nhuận điều chỉnh rủi ro. Elsas và cộng sự (2010) đánh giá ảnh hưởng của đa dạng hoá thu nhập đến HQHĐKD của 380 NHTM tại các quốc gia phát triển giai đoạn 1996-2008.

Kết quả hồi quy GMM cho rằng đa dạng hóa thu nhập giúp cải thiện HQHĐKD của các NHTM. Sanya và Wolfe (2011) nghiên cứu ảnh hưởng của đa dạng hóa thu nhập đến HQHĐKD và rủi ro của NHTM. Sử dụng dữ liệu bảng gồm 226 NHTM tại 11 nền kinh tế mới nổi giai đoạn 2000-2007. Nghiên cứu tiếp cận phương pháp hồi quy xu hướng tổng quát hệ thống (Sys- GMM).

Kết quả cung cấp bằng chứng thực nghiệm đa dạng hóa TNPTD làm giảm rủi ro hoạt động và tăng cường HQHĐKD của các NHTM. Meslier và cộng sự (2014) phân tích tác động của đa dạng hóa thu nhập đến HQHĐKD của các NHTM thuộc nền kinh tế mới nổi. Dữ liệu nghiên cứu bao gồm 39 NHTM Philipines và một số quốc gia trong nền kinh té mới nổi giai đoạn 1999- 2005. Hồi quy xu hướng tổng quát (GMM) cho thấy các ngân hàng ở Philippines có cơ cấu TNPTD khác nhau.

Tỷ lệ của hoạt động kinh doanh trong TNPTD là tương đối cao hơn so với một NHTM trung bình của Hoa Kỳ. Thu nhập từ phí có được từ các hoạt động ngân hàng truyền thống, thu nhập từ hoạt động giao dịch ít tương quan với tăng trưởng thu nhập lãi ròng. Lợi ích đa dạng hóa cao hơn từ việc chuyển sang 8 hoạt động giao dịch thay vì chuyển sang hoạt động dựa trên thu nhập từ phí. Tóm lại, nghiên cứu này ủng hộ vai trò tích cực và quan trọng của dạng hoá thu nhập, TNPTD đối vơi HQHĐKD của các NHTM và điều chỉnh rủi ro.

Lee và cộng sự (2014) phân tích tác động của đã nghiên cứu ảnh hưởng của TNPTD đến HQHĐKD của 967 NHTM tại 22 quốc gia ở Châu Á giai đoạn 1995- 2009. Kết quả hồi quy Sys-GMM cho rằng gia tăng tỷ lệ TNPTD không chỉ làm giảm thiểu rủi ro mà nâng cao HQHĐKD của các NHTM. Sissy và cộng sự (2017) đánh giá vai trò của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro và lợi nhuận của các NHTM. Dữ liệu nghiên cứu là 320 ngân hàng tại 29 quốc gia châu Phi giai đoạn 2002-2013 và sử dụng công cụ ước tính GMM hệ thống cho kết quả là các ngân hàng ở Châu Phi thu được lợi ích tuyệt đối từ việc đa dạng hóa thu nhập khi tăng tỷ lệ TNPTD.

Nguyen (2018) nghiên cứu tác động của đa dạng hoá thu nhập đến HQHĐKD của 175 NHTM từ sáu nước ASEAN trong giai đoạn 2007–2014. Kết quả hồi quy GMM hệ thống chỉ ra rằng các ngân hàng tăng cường hoạt động đa dạng hóa thu nhập sẽ có HQHĐKD cao hơn. Ammar và Boughrara (2019) nghiên cứu tác động của đa dạng hóa thu nhập đối với hoạt động của NHTM, làm sáng tỏ tác động của sự chuyển dịch sang các nguồn TNPTD. Dữ liệu nghiên cứu bao gồm 275 ngân hàng từ mười bốn quốc gia MENA(Trung Đông và Bắc Phi) giai đoạn 1990–2011.

Việc ước tính mô hình bằng cách sử dụng hệ thống GMM cho thấy đa dạng hóa thu nhập, TNPTD sẽ cải thiện HQHĐKD của ngân hàng. Thu nhập từ hoạt động giao dịch là thành phần TNPTD đóng góp nhiều nhất vào việc thúc đẩy lợi nhuận và sự ổn định của các NHTM. Tuy nhiên, gia tăng tỷ lệ TNPTD làm tăng rủi ro hoạt động của các NHTM. Nghiên cứu đối với từng quốc gia phát triển Stiroh (2004b) nghiên cứu chiến lược đa dạng hoá thu nhập của các NHTM tại Mỹ giai đoạn 1984 – 2001, cho rằng đa dạng hóa thu nhập ít mang lại lợi ích cho các NHTM đang cố gắng chuyển đổi thu nhập hướng tới TNPTD.

DeYoung và Rice (2004) nhận định rằng mặc dù đa dạng hóa thu nhập thúc đẩy tăng lợi nhuận, đồng thời làm gia tăng sự biến động của thu nhập và rủi ro của các NHTM tại Mỹ. 9 Delpachitra và Lester (2013) nghiên cứu hoạt động đa dạng hoá và HQHĐKD của NHTM ở Úc. Dữ liệu nghiên cứu bao gồm 09 NHTM niêm yết giai đoạn 2000- 2009. Kết quả hồi quy SYS-GMM cho thấy rằng đa dạng hóa thu nhập tác động tiêu cực đến HQHĐKD và không giúp cải thiện rủi ro hoạt động.

Việc gia tăng tỷ lệ TNPTD sẽ không mang lại lợi ích cho các NHTM. Brighi và Venturelli (2014) nghiên cứu đa dạng hoá thu nhập của 52 Ngân hàng tại Ý trong giai đoạn 2006-2011. Kết quả hồi quy GMM cho thấy đa dạng hóa thu nhập làm tăng hiệu quả sinh lời điều chỉnh rủi ro của các NHTM. Köhler (2014) nghiên cứu vai trò của TNPTD đối với HQHĐKD của 1893 ngân hàng (ngân hàng thương mai, ngân hàng hợp tác, ngân hàng tiết kiệm, ngân hàng đầu tư) tại Đức giai đoạn 2002-2012.

Hồi quy theo phương pháp hồi quy bình phương tối thiểu 2 giai đoạn (2-SLS) chỉ ra rằng tác động của TNPTD đối với HQHĐKD và rủi ro ngân hàng là khác nhau giữa các ngân hàng định hướng đầu tư và bán lẻ. Trong khi các ngân hàng định hướng bán lẻ như tiết kiệm, hợp tác xã và các ngân hàng khác trở nên ổn định hơn đáng kể (nghĩa là có điểm Z cao hơn) nếu họ tăng tỷ lệ TNPTD; tuy nhiên, TNPTD sẽ làm cho các ngân hàng định hướng đầu tư trở nên rủi ro hơn đáng kể. Tỷ lệ TNPTD tác động tích cực đến HQHĐKD đã điều chỉnh rủi ro của các NHTM. Park và cộng sự (2019) đánh giá vai trò của TNPTD đến rủi ro và HQHĐKD của các NHTM tại Mỹ trong cuộc khủng hoảng tài chính giai đoạn 2007-2009.

Kết quả hồi quy GMM cho thấy tỷ lệ TNPTD có tác động tích cực đối với rủi ro ngân hàng và lợi nhuận trong giai đoạn khủng hoảng 1. Nghiên cứu đối với từng quốc gia đang phát triển Berger và cộng sự (2010) nghiên cứu tác động của đa dạng hóa đối với HQHĐKD của ngân hàng bằng cách sử dụng dữ liệu của 88 NHTM ở Trung Quốc trong giai đoạn 1996–2006. Kết quả hồi quy GMM cho thấy đa dạng hoá tài sản, đa dạng hoá thu nhập làm giảm HQHĐKD. Các ngân hàng có sở hữu nước ngoài gặp ít bất lợi hơn về đa dạng hóa.

Phân tích này có thể cung cấp ý nghĩa quan trọng cho các nhà quản lý và điều hành ngân hàng ở Trung Quốc cũng như ở các nền kinh tế mới nổi khác. 10 Pennathur và cộng sự (2012) phân tích tác động của cấu trúc sở hữu đối với mối quan hệ đa dạng hóa thu nhập và HQHĐKD của các ngân hàng tại Ấn Độ. Các ngân hàng tại các nền kinh tế mới nổi có được nhiều lợi ích từ hoạt động đa dạng hóa thu nhập. Các ngân hàng khu vực công và NHTM tư nhân có các chiến lược đa dạng hóa khác nhau, điều này tạo ra những ảnh hưởng khác nhau đến HQHĐKD của ngân hàng.

Đa dạng hoá thu nhập làm gia tăng thu nhập lãi thuần, TNPTD cũng như tỷ lệ thu nhập từ giao dịch và tác động tích cực đến HQHĐKD và làm gia tăng rủi ro của các NHTM tư nhân và nước ngoài. Đa dạng hóa các hoạt động thu phí và giao dịch làm giảm sự biến động HQHĐKD của các NHTM khu vực công. Li và Zhang (2013) đánh giá những lợi ích tiềm năng của đa dạng hóa do sự phụ thuộc ngày càng nhiều vào các hoạt động kinh doanh phi truyền thống dựa trên dữ liệu từ ngành ngân hàng Trung Quốc giai đoạn 1986–2008. Hồi quy GMM cho thấy rằng có lợi ích đa dạng hóa khi tăng TNPTD nhưng cũng đồng thời có thể gia tăng rủi ro hệ thống.

Belguith và Bellouma (2017) đã nghiên cứu vai trò của cấu trúc thu nhập hoạt động đối với HQHĐKD của các NHTM tai Tunisia giai đoạn 2001-2014. Kêt quả hồi quy 2-SLS thấy rằng chuyển đổi cấu trúc thu nhập từ thu nhập lãi thuần sang TNPTD sẽ thúc đẩy lợi nhuận và sự ổn định của các NHTM và ích từ đa dạng hóa là lớn nhất đối với các NHTM có nhiều chuyển dịch sang TNPTD. Ahamed (2017) nghiên cứu trả lời câu hỏi liệu sự thay đổi đối với hoạt động TNPTD có cải thiện HQHĐKD của các ngân hàng Ấn Độ giai đoạn 1998-2014. Nghiên cứu cho rằng tỷ lệ TNPTD cao thì HQHĐKD điều chỉnh rủi ro cao hơn.

Các NHTM tư nhân nước ngoài đạt được lợi nhuận đã điều chỉnh rủi ro cao hơn so với các NHTM khu vực công và NHTM tư nhân nội địa. Sun và cộng sự (2017) cho rằng TNPTD là điều mà hầu hết các ngân hàng Trung Quốc đang phấn đấu trong những năm gần đây do sự cạnh tranh gay gắt giữa các NHTM do thị trường ngày càng mở và quy định cứng rắn từ ngân hàng trung ương Trung Quốc. Mô hình ngưỡng bảng được sử dụng với tập dữ liệu bảng cân bằng của 16 NHTM Trung Quốc niêm yết, trong giai đoạn 2007 đến 2013, để điều tra mối quan hệ giữa TNPTD và HQHĐKD. Kết quả cho thấy hai kết luận chính: (1) sự tồn 11 tại của hai ngưỡng cho thấy có mối quan hệ phi tuyến; (2) có mối tương quan nghịch giữa tỷ lệ TNPTD và HQHĐKD của các NHTM.

Hơn nữa, khi tỷ lệ TNPTD cao hơn ngưỡng 16.62%, mối tương quan nghịch giảm. Tỷ lệ này nên được kiểm soát ở ngưỡng cao hơn, kỳ vọng tỷ lệ TNPTD ảnh hưởng tích cực đến kết quả hoạt động kinh doanh của các NHTM. Liang và cộng sự (2018) nghiên cứu vai trò của đa dạng hóa thu nhập của ngân hàng bằng cách sử dụng dữ liệu các NHTM tại Trung Quốc giai đoạn 2003–2012. Kết quả nghiên cứu cho rằng đa dạng thu nhập ảnh hưởng tiêu cực đến HQHĐKD của các ngân hàng.

Quản trị doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng tăng cường mối quan hệ giữa đa dạng hoá thu nhập và HQHĐKD của các NHTM tại Trung Quốc. Noor và Siddiqui (2019) lấp đầy khoảng trống về sự tồn tại của mối quan hệ phi tuyến tính giữa TNPTD và HQHĐKD của các NHTM ở Pakistan.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Tác Động Của Đa Dạng Hóa Thu Nhập Đến Hiệu Quả Kinh Doanh Ngân Hàng Tại Việt Nam" khám phá mối liên hệ giữa việc đa dạng hóa nguồn thu nhập và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng tại Việt Nam. Tác giả chỉ ra rằng việc mở rộng các dịch vụ tài chính không chỉ giúp ngân hàng tăng trưởng doanh thu mà còn nâng cao khả năng cạnh tranh và giảm thiểu rủi ro. Bài viết cung cấp cái nhìn sâu sắc về các chiến lược đa dạng hóa, từ đó giúp các nhà quản lý ngân hàng có thể áp dụng những phương pháp hiệu quả để tối ưu hóa hoạt động kinh doanh.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh hoàn thiện hệ thống thông tin quản trị quan hệ khách hàng tại ngân hàng tmcp phát triển tp hồ chí minh chi nhánh đăk lăk hdbank đắk lắk, nơi đề cập đến việc cải thiện hệ thống quản lý khách hàng, hay Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh biện pháp đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương việt nam chi nhánh nam hải phòng, tập trung vào chuyển đổi số trong ngân hàng. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh biện pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương việt nam chi nhánh nam hải phòng, giúp bạn nắm bắt các phương pháp nâng cao chất lượng dịch vụ tín dụng. Những tài liệu này sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn toàn diện hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh ngân hàng.