Chương 1: Giới thiệu tổng quan nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước Chương 3: Phương pháp và mô hình nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Hàm ý chính sách 10 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM Chương này nhằm mục đích cung cấp những kiến thức quan trọng về ngân hàng và những nghiên cứu trước đây về yếu tố quyết định lợi nhuận ngân hàng. Vì vậy, chương này được chia thành hai phần chính. Phần đầu xem xét các khái niệm chính về ngân hàng, bao gồm định nghĩa các ngân hàng, loại hình ngân hàng, bảng cân đối kế toán ngân hàng, báo cáo kết quả kinh doanh và thước đo lợi nhuận ngân hàng.
Phần tiếp theo tập trung phân tích các nghiên cứu trước về đề tài này, bao gồm các nghiên cứu trên thế giới về yếu tố quyết định lợi nhuận ngân hàng và các nghiên cứu trước đây về lợi nhuận ngân hàng trong ngành ngân hàng Việt Nam.1 Khái quát về ngành ngân hàng.1 Kiến thức cơ bản về hệ thống tài chính Đầu tiên, cần phải hiểu được thế nào là hệ thống tài chính. Theo Howells và Bain (2007), hệ thống tài chính bao gồm một tập hợp các thị trường, cá nhân và thể chế thực hiện trao đổi trong những thị trường này, trong khi bộ máy giám sát chịu trách nhiệm điều hành. Tương tự, Mishkin và Eakins (2012) có định nghĩa trong sách của mình rằng hệ thống chính trị là một nhóm của nhiều thể chế tài chính tư nhân như ngân hàng, các công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí hay các tổ chức tài chính, và tất cả các thể chế này chịu sự quản lý nghiêm ngặt của các cơ quan giám sát. Khi muốn vay hoặc cho vay, người tiêu dùng cuối của hệ thống tài chính có thể lựa chọn giữa hai phương án là tài chính trực tiếp và tài chính gián tiếp (Casu cùng nhóm nghiên cứu, 2006).
Đối với tài chính gián tiếp, người tham gia vào thị trường sẽ thương thảo trực tiếp với đối tác tương ứng. Cụ thể, người vay nhận tài chính từ người cho vay bằng cách bán cho họ các công cụ tài chính thông qua các thị trường tài chính. Một lựa chọn khác đó là các trung gian tài chính, đóng vai trò như các kênh tài chính giữa người vay và người cho vay. Một trung gian tài chính hoạt động bằng cách vay mượn tài chính từ người cho vay, sau đó đem chính nguồn này cho người vay mượn (Howels & Bain, 2007).
Một trong những trung gian tài chính mà cá nhân phải tương tác thường xuyên chính là các ngân hàng.2 Định nghĩa ngân hàng Ngân hàng có chức năng nhận tiền gửi và tạo ra các khoản vay (Choudhry, 2011), đây là tính năng giúp phân biệt giữa ngân hàng với các loại hình trung gian tài chính khác. Casu cùng nhóm nghiên cứu (2006) cho rằng các ngân hàng đóng vai trò trung gian giữa người vay và người gửi tiền tiết kiệm. Cụ thể, các ngân hàng nhận tài chính bằng cách đi vay và tạo ra các khoản nợ khác, ví dụ như tiền gửi, nhằm thu được tài sản là chứng khoán hay các khoản vay. Sự chênh lệch giữa lãi suất phải trả cho các khoản nợ và lãi suất thu được từ tài sản sẽ được dùng để hỗ trợ chi phí quản lý và nợ xấu, đồng thời tăng lợi nhuận cho các cổ đông (Hull, 2012).
Theo Luật Các Tổ chức Tín dụng số 47/2010/QH12 ban hành tại Việt Nam ngày 16/6/2010, ngân hàng được định nghĩa là một loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng, bao gồm nhận tiền gửi và cấp tín dụng.3 Các loại hình ngân hàng chính Ngân hàng quan trọng nhất, lẽ dĩ nhiên phải nhắc đến, là ngân hàng trung ương, nơi bộ máy chính phủ chịu trách nhiệm quản lý chính sách tiền tệ và bình ổn giá (Mishkin & Eakins, 2012). Tên gọi ngân hàng trung ương của mỗi quốc gia là khác nhau, ví dụ ở Vương quốc Anh là Ngân hàng Anh, ở Hoa Kỳ là Hệ thống Dự trữ Liên bang và ở Việt Nam là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Có thể gộp các ngân hàng khác trong hệ thống tài chính lại tùy thuộc vào chức năng kinh tế và quyền sở hữu của các ngân hàng đó. Đầu tiên, xét về chức năng, Hull (2012) phân loại ngân hàng thành hai nhóm chính: các ngân hàng thương mại và các ngân hàng đầu tư.
Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng phổ biến nhất, thực hiện các vai trò truyền thống của ngân hàng là nhận tiền gửi và cho vay (Casu cùng nhóm nghiên cứu, 2006). Có thể chia các ngân hàng thương mại thành ngân hàng bán lẻ và ngân hàng bán buôn. Đối tượng của các ngân hàng bán lẻ là các cá nhân, họ tập trung vào nhu cầu cá nhân của khách hàng bằng cách đưa ra các sản phẩm ghi nợ (tài khoản tiết kiệm, tiền gửi có kỳ hạn hay trái phiếu đầu tư) và các sản phẩm tín dụng (các khoản vay mua xe, các khoản vay thế chấp, thẻ tín dụng). Mặt khác, các ngân hàng bán buôn cung cấp các dịch vụ ngân hàng hướng tới các cơ quan đoàn thể cỡ vừa cho đến lớn.
Nhìn chung, các khoản cho vay và tiền gửi ở các ngân hàng bán buôn đều lớn hơn nhiều so với ngân hàng bán lẻ 12 (Hull, 2012). Trong khi đó, các ngân hàng đầu tư muốn gia tăng nợ và cổ phần trong các công ty, nhằm cung cấp các dịch vụ tư vấn về sáp nhập, thu nhập, cơ cấu lại bộ máy và các quyết định tài chính, cũng như về việc tham gia vào mua bán chứng khoán (Hull, 2012). Mặt khác, có thể phân loại các ngân hàng dựa trên cơ cấu sở hữu, bao gồm ngân hàng nhà nước và ngân hàng tư nhân. Ngân hàng nhà nước phải có ít nhất một phần tư cổ phần thuộc sở hữu của chính phủ (Sherif cùng nhóm nghiên cứu, 2003).
Trong khi đó, các ngân hàng tư nhân thường được sở hữu bởi các cổ đông, theo đó khách hàng sẽ không tham gia quản lý ngân hàng. Ngược lại, các ngân hàng khác như ngân hàng tiết kiệm hay ngân hàng hợp tác xã lại được sở hữu hoàn toàn bởi các thành viên, bao gồm cả những người gửi tiền hay người vay (Casu cùng nhóm nghiên cứu, 2006). Các hiệp hội tiết kiệm và cho vay ở Mỹ và các tổ chức tài chính cho vay có thế chấp bằng bất động sản ở Anh là những ví dụ điển hình về loại hình ngân hàng đồng sở hữu này. Theo Luật Các Tổ chức Tín dụng Việt Nam năm 2010, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng hợp tác xã, ngân hàng chính sách (còn gọi là ngân hàng nhà nước).4 Bảng cân đối kế toán ngân hàng thương mại Để hiểu được lợi nhuận ngân hàng phát sinh như thế nào, cần phải chú ý đến bảng cân đối kế toán.
Như bất kỳ tổ chức nào, bảng cân đối kế toán của ngân hàng là một danh sách bao gồm tài sản, các khoản nợ và vốn, giúp cung cấp thông tin về tình hình tài chính của ngân hàng đó (Weert, 2011) Tổng tài sản = Tổng số khoản nợ phải trả + Vốn 2.1 Bên nợ phải trả Xét về khía cạnh số khoản nợ phải trả, một ngân hàng thu tài chính bằng cách bán nợ, ví dụ như tiền gửi và các khoản vay từ các thể chế khác tạo ra nguồn tài chính mà ngân hàng đó sử dụng (Weert, 2011). Có bốn thành tố chính trong khía cạnh nợ phải trả của một ngân hàng, đó là tiền gửi có thể viết chi phiếu, tiền gửi không giao dịch, các khoản vay và vốn ngân hàng. Tiền gửi là nguồn chính của tài chính ngân hàng (ví dụ, trong năm 2012, 70% các khoản nợ phải trả của các ngân hàng Việt Nam là tiền gửi). Tiền gửi có thể được chia 13 làm hai loại: tiền gửi có thể viết chi phiếu và tiền gửi không giao dịch.
Tiền gửi có thể viết chi phiếu (còn gọi là tiền gửi giao dịch) là các tài khoản ngân hàng cho phép người gửi rút tiền hoặc chuyển tiền sang tài khoản khác theo yêu cầu. Nhờ khả năng thanh toán bằng tiền mặt của các tài khoản này, chủ tài khoản sẵn sàng chấp nhận lãi suất thấp. Do đó, tiền gửi có thể viết chi phiếu là nguồn chi ít nhất của tài chính ngân hàng (Burton & Brown, 2009). Bên cạnh đó, tiền gửi không giao dịch, bao gồm tài khoản tiết kiệm và tiền gửi có kỳ hạn, chiếm tỉ lệ quan trọng đối với tài chính ngân hàng.
Do người gửi không được viết phiếu chi cho các tài khoản tiết kiệm và tài khoản có kỳ hạn nên lãi suất chi đối với tiền gửi không giao dịch sẽ cao hơn so với tiền gửi giao dịch (Singh & Dutta, 2013). Các ngân hàng có thể thu tài chính bằng cách vay mượn từ các thể chế tài chính khác, đây đồng thời cũng là một loại chính của nợ phải trả trên bảng cân đối kế toán.2 Bên tài sản Xét về khía cạnh tài sản, ngân hàng thường dùng những nguồn tài chính này để mua tài sản sinh lợi nhuận, ví dụ như các khoản cho vay, và tiền lãi thu được từ những khoản này giúp các ngân hàng sinh lợi nhuận (Weert, 2011). Casu cùng nhóm nghiên cứu (2006) đưa ra một số loại hình tải sản chính trong bảng cân đối kế toán ngân hàng, bao gồm tiền mặt, dự trữ, tiền gửi ở các ngân hàng khác, các khoản cho vay, các khoản đầu tư, tài sản cố định và tài sản khác. Kết cấu tài sản của các ngân hàng thương mại Việt Nam là một ví dụ.
Thực tế cho thấy ngân hàng chỉ sở hữu một lượng rất nhỏ tiền mặt trong tài khoản nhằm đảm bảo các yêu cầu giao dịch hàng ngày. Thứ hai, các ngân hàng được yêu cầu gửi tiền vào một tài khoản mở tại ngân hàng nhà nước, còn gọi là dự trữ. Có hai thành tố dự trữ là dự trữ bắt buộc và dự trữ thặng dư. Dự trữ bắt buộc là số khoản dự trữ tối thiểu các ngân hàng phải duy trì để tự bảo vệ khi tiền gửi giao dịch bị rút (Arnold, 2013).
Bên cạnh đó, dự trữ thặng dư được tính bởi sự chênh lệch giữa tổng dự trữ và dự trữ bắt buộc. Các ngân hàng thường duy trì dự trữ bổ sung nhằm gia tăng khả năng thanh toán bằng tiền mặt (Boyes & Melvin, 2012). Ngoài ra, tiền gửi tại các ngân hàng khác là số lượng tiền mặt các ngân hàng gửi ở các ngân hàng khác, ví dụ như phiếu chi, trong quá trình thu thập và giao dịch ngoại hối (Golin & Delhaise, 2013). Các khoản cho vay chiếm hơn một nửa tổng tài sản và là loại hình tài sản ngân hàng lớn 14 nhất.