PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài nghiên cứu Chính sách tiền tệ (CSTT) được thực hiện nhằm hướng tới các mục tiêu kinh tế vĩ mô về lạm phát, thất nghiệp và sản lượng thực của nền kinh tế. Mặc dù vậy, tác động của CSTT thường chỉ gián tiếp tác động lên các yếu tố này với độ trễ nhất định. Trong khi đó, các thành phần của thị trường tài chính như thị trường cổ phiếu, trái phiếu, thế chấp, ngoại hối với đặc điểm nhanh chóng phản ứng theo các thông tin mới, chịu tác động trực tiếp và tức thời trong việc thay đổi của chính sách tiền tệ.
Để hiểu rõ hơn cơ chế truyền dẫn của CSTT, việc xác định mối quan hệ giữa CSTT và giá tài sản tài chính là rất cần thiết. Thị trường cổ phiếu được xem là một thành phần quan trọng trong thị trường tài chính. Giá cổ phiếu là một trong những giá tài sản được giám sát chặt chẽ nhất trong nền kinh tế và thường rất nhạy cảm với điều kiện kinh tế. Giá cổ phiếu liên kết với nền kinh tế thực thông qua ảnh hưởng của chúng đối với chi tiêu tiêu dùng và chi tiêu đầu tư.
Chính vì vậy, với cơ chế truyền dẫn thông qua ảnh hưởng lên giá cổ phiếu, những thay đổi trong CSTT có thể tác động lên nền kinh tế thực. Bernanke và Kuttner (2005) đã ghi nhận sự phản ứng tương đối mạnh mẽ và nhất quán của thị trường cổ phiếu đối với các cú sốcCSTTvà biến động CSTTphần nào chịu sự ảnh hưởng của biến động chung trong giá cổ phiếu. Bjørnland và Kai Leitemo (2009) cho rằng có ít nhất hai lý do tại sao thông tin giá cổ phiếu có thể ảnh hưởng đến lập trường CSTT. Lý do thứ nhất là giá cổ phiếu có thể là chỉ số hàng đầu dùng để xem xét các mục tiêu của chính sách tiền tệ.
Giá cổ phiếu có thể ảnh hưởng đến tiêu dùng thông qua hiệu ứng giàu có và đến đầu tư thông qua hiệu ứng Tobin Q (Tobin, 1969). Lý do thứ hai, giá cổ phiếu có thể phản ánh phản ứng dự kiến của các yếu tố quyết định đến kết quả của CSTT. Lý do thứ hai này được LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 giải thích dựa trên việc xác định giá tài sản thông qua phương pháp chiết khấu về hiện giá các biến số phản ảnh dòng thu nhập kỳ vọng trong tương lai. Bài nghiên cứu về tác động của CSTT lên giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam không chỉ hữu ích cho việc nghiên cứu các yếu tố quyết định giá cổ phiếu trong thị trường này mà còn góp phần hiểu biết sâu sắc hơn về hành vi của CSTT và ảnh hưởng tiềm tàng của nó lên nền kinh tế thực.
Mục tiêu nghiên cứu Phân tích tác động của CSTT lên giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Cụ thể là tác động của CSTT thông qua biến động của các biến chính sách gồm lãi suất tái cấp vốn, cung tiền M2 và tỷ giá USD/VND lên chỉ số chứng khoán VNIndex và HNXIndex giai đoạn từ tháng 12/2013 đến tháng 6/2019. Bên cạnh đó, bài viết cũng muốn xem xét tác động của các biến CSTT lên giá cổ phiếu các nhóm ngành xây dựng (HNXCon), tài chính (HNXFin) và công nghiệp (HNXMan) trong giai đoạn từ 12/2013 đến 6/2019. Câu hỏi nghiên cứu Bài viết này sẽ tập trung giải quyết câu hỏi nghiên cứu sau: - Sự thay đổi các biến CSTT (lãi suất tái cấp vốn, cung tiền M2 và tỷ giá USD/VND) có tác động ra sao lên chỉ số VNIndex và HNXIndex? - Sự thay đổi các biến CSTT có tác động ra sao lên chỉ số các nhóm ngành theo phân loại của sàn HNX: xây dựng (HNXCon), tài chính (HNXFin) và công nghiệp (HNXMan)? 4.
Đố tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là phản ứng của các chỉ số chứng khoán VNIndex, HNXIndex, HNXCon, HNXFin và HNXMan trước tác động của CSTT mà đại diện là các biến tỷ giá USD/VND, cung tiền M2 và lãi suất tái cấp vốn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Phạm vi nghiên cứu là tác động của CSTT lên các chỉ số chứng khoán VNIndex, HNXIndex, HNXCon, HNXFin và HNXMan trong giai đoạn từ 12/2013 đến 6/2019. P ƣơng p áp ng ên cứu Bài viết sử dụng mô hình SVAR trên cơ sở tham khảo các nghiên cứu thực nghiệm của các tác giả Yun Daisy và cộng sự (2010), Nguyễn Phúc Cảnh (2014) và Dương Ngọc Mai Phương và cộng sự (2015) cho bài làm. Eview được ứng dụng trong bài làm bởi tính phổ biến và dễ sử dụng của phần mềm này.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 1. Tổng quan lý thuyết 1. Tác độngCSTT lên giá cổ phiếu - ô ìn tăng trƣởng Gordon Tác động của CSTT lên giá cổ phiếu có thể được giải thích thông qua mô hình tăng trưởng Gordon. Đây là một trong những mô hình hữu ích để tính toán giá trị của cổ phiếu.
Theo Miskin (2013, trang 141-156), mô hình tăng trưởng Gordon được mô tả như sau: Trong đó: - P0 là hiện giá của cổ phiếu. - D0 là cổ tức được trả gần đây nhất - g là tốc độ tăng trưởng cổ tức không đổi dự kiến - ke là tỷ suất sinh lợi đòi hỏi của nhà đầu tư Mô hình gồm hai giả định như sau: - Thứ nhất, cổ tức được giả định sẽ tiếp tục tăng trưởng mãi mãi với một tốc độ g không đổi. Hay nói cách khác, trên thực tế, nếu cổ tức được kỳ vọng tăng trưởng với tốc độ không đổi trong một khoảng thời gian dài, thì mô hình sẽ cho ra kết quả hợp lý do dòng tiền phát sinh ở tương lai càng xa thì khi chiết khấu về hiện tại sẽ càng nhỏ. - Thứ hai, tốc độ tăng trưởng cổ tức được giả định nhỏ hơn tỷ suất sinh lợi đòi hỏi trên vốn chủ sở hữu ke.
Myron Gordon, trong quá trình phát triển mô hình, đã chứng minh rằng đây là một giả định hợp lý vì về lý thuyết, nếu tốc độ tăng trưởng cổ tức nhanh hơn tỷ suất sinh lợi đòi hỏi của những người nắm giữ vốn cổ phần, về lâu dài, công ty sẽ tăng trưởng vô cùng lớn một cách không hợp lý. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CSTT có thể ảnh hưởng đến giá cổ phiếu theo hai cách với sự giải thích dựa trên mô hình tăng trưởng Gordon. Cách đầu tiên, khi ngân hàng trung ương (ở Mỹ là Cục dự trữ Liên bang - FED) giảm lãi suất, lợi nhuận của trái phiếu – một loại tài sản có thể thay thế cho cổ phiếu – sẽ giảm và nhà đầu tư sẽ chấp nhận mức tỷ suất sinh lợi đòi hỏi thấp hơn trên khoản đầu tư vào cổ phiếu (ke). Sự sụt giảm của ke làm giảm mẫu số của công thức tăng trưởng Gordon, dẫn đến giá trị P0 cao hơn và làm giá cổ phiếu tăng.
Theo cách thứ hai, việc giảm lãi suất có xu hướng kích thích tăng trưởng kinh tế, nhờ đó, tốc độ tăng trưởng cổ tức g có thể tăng và làm giảm mẫu số trong công thức, dẫn đến P0 cao hơn và giá cổ phiếu tăng. Theo Mishkin, tác động của CSTT đối với giá cổ phiếu là một trong những cách quan trọng mà CSTT ảnh hưởng đến nền kinh tế. Vai trò của giá cổ phiếu trong cơ c ế dẫn truyền CSTT Vai trò của giá cổ phiếu trong cơ chế dẫn truyền CSTT thường được Mishkin (2013) giải thích thông qua hệ số Tobin q và hiệu ứng giàu có. Tobin q Lý thuyết về Tobin q được phát triển bởi James Tobin - nhà kinh tế học đoạt giải Nobel theo trường phái Keynes.
Lý thuyết giải thích về ảnh hưởng của CSTT đến nền kinh tế thông qua tác động của nó lên giá cổ phiếu. Lý thuyết này giải thích tốt cho việc tỷ lệ chi tiêu đầu tư cực kỳ thấp trong cuộc Đại khủng hoảng khi giá cổ phiếu sụp đổ; năm 1933, cổ phiếu chỉ có giá trị bằng 1/10 giá trị vào cuối năm 1929; q giảm xuống chưa từng thấy. Với chỉ số q được tính bằng thương số giữa giá trị thị trường của doanh nghiệp và chi phí vốn thay thế (dùng để mua mới máy móc, thiết bị nhằm mở rộng sản xuất). Chỉ số q cao hàm ý giá trị của doanh nghiệp cao hơn chi phí vốn thay thế, do đó doanh nghiệp có thể phát hành cổ phiếu với giá cao hơn và mua mới máy móc, thiết bị với giá thấp hơn.
Điều này khiến chi đầu tư mở rộng của doanh nghiệp gia tăng hơn vì họ có thể mở rộng sản xuất kinh doanh nhiều hơn với một lượng chứng khoán phát LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 hành lớn hơn. Ngược lại, khi q thấp hơn, doanh nghiệp sẽ không đầu tư mới vì giá trị thị trường của các công ty nhỏ hơn so với chi phí vốn cho việc mua mới nhà máy, thiết bị. Các công ty sẽ thực hiện việc mở rộng thông qua mua lại những công ty hiện có thay vì mua mới nhà máy thiết bị. Do đó, chi đầu tư mua mới sẽ rất thấp.
Mấu chốt vấn đề được giải thích bởi mối quan hệ giữa chỉ số q và đầu tư. CSTT trước hết tác động đến giá cổ phiếu thông qua lãi suất thực. Cụ thể, khi lãi suất thực tế của trái phiếu thấp hơn có nghĩa là lợi nhuận kỳ vọng của phương án thay thế cho cổ phiếu giảm. Điều này làm cho cổ phiếu hấp dẫn hơn so với trái phiếu, do đó nhu cầu đối với cổ phiếu tăng và tăng giá cổ phiếu (Ps), dẫn đến q cao hơn, và do đó chi đầu tư cao hơn.
Ngược lại, khi lãi suất thực của trái phiếu cao hơn, làm cho cổ phiếu kém hấp dẫn so với trái phiếu, do đó nhu cầu đối với cổ phiếu giảm và giảm giá cổ phiếu (Ps), dẫn đến q thấp hơn, và do đó chi đầu tư giảm, tổng cầu giảm. Cơ chế dẫn truyền CSTT trong trường hợp này như sau: Như vậy, trong cơ chế dẫn truyền, thông qua tác động của lãi suất thực lên giá cổ phiếu, từ đó ảnh hưởng đến đầu tư của doanh nghiệp, CSTT có thể tác động đến tổng cầu của nền kinh tế. Hiệu ứng giàu có Hiệu ứng giàu có được Franco Modigliani dùng để giải thích cơ chế truyền dẫn CSTT theo cách tiếp cận thông qua tác động bảng cân đối thu chi của người tiêu dùng lên quyết định chi tiêu tiêu dùng của họ. Chi tiêu vốn của người tiêu dùng không bao gồm những khoản chi tiêu cho hàng hóa tiêu dùng hàng ngày.
Theo lý thuyết này, yếu tố quyết định chi tiêu tiêu dùng của người tiêu dùng là nguồn lực trọn đời (không chỉ gồm thu nhập hiện tại).