Chương 1 cũng trình bày bố cục nghiên cứu của luận văn, chương 2 được trình bày tiếp theo là cơ sở lý thuyết của luận văn. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Cơ sở lý thuyết 2.1 Khái niệm về cấu trúc vốn Theo Trần Ngọc Thơ & Vũ Việt Quảng, (2007) thì khái niệm cấu trúc vốn được nêu là sự kết hợp của các loại vốn được sử dụng để tài trợ cho quyết định đầu tư của doanh nghiệp như cổ phần thường, nợ dài hạn, nợ ngắn hạn thường xuyên và cổ phần ưu đãi. Cấu trúc vốn tối ưu xảy ra ở điểm mà tại đó tối thiểu hoá chi phí sử dụng vốn, tối thiểu hoá rủi ro và tối đa hoá giá trị doanh nghiệp. Có từ 2 nguồn chiếm tỷ trọng chính trong các ngân hàng đó là vốn chủ sở hữu và nguồn vốn vay (bao gồm huy động ngắn hạn, trung dài hạn, phát hành trái phiếu, phát hành chứng chỉ tiền gửi…).
Một điểm đặc trưng của ngân hàng là doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy tài chính rất cao, nợ vay thông thường chiếm khoảng trên 90% tổng tài sản ngân hàng. Cấu trúc vốn trong ngân hàng có những đặc trực riêng vì phải đáp ứng các yêu cầu của chính phủ về an toàn vốn. Một trong những yêu cầu của NHTW đó là khi các ngân hàng thương mại cung cấp các hợp đồng tiền gởi, với đặc thù các hợp đồng tiền gởi thì khách hàng có quyền rút bất kỳ thời gian nào, chính vì không thể dự đoán được khi nào thì người gởi tiền cần tiền do đó NHTW đòi hỏi các NHTM phải thiết lập một khoản bảo hiểm tiền gởi để tránh sự rút tiền ồ ạt này. Cũng chính vì vậy, một số ngân hàng có thể sử dụng ít vốn hơn nên có nhiều nguy cơ rủi ro đến từ vấn đề này.
Do đó, NHTW có lý do để phòng ngừa rủi ro đạo đức này và đã tăng cường các quy định về vốn nhằm đảm bảo về tính thanh khoản của các ngân hàng. Theo Berlin (2011) thì các NHTM thường có tỷ lệ vốn chủ sở hữu nhiều hơn so với các quy định của NHTW. Gropp & Heider (2010) trong nghiên cứu của mình đã cho kết quả rằng các ngân hàng đều sử dụng tỷ lệ đòn bẩy tài chính cao trung bình vào khoảng hơn 87% giá trị thị trường và hơn 93% giá trị sổ sách. 8 Tóm lại, cấu trúc vốn được hiểu trong luận văn này là sự kết hợp của nợ dài hạn, nợ ngắn hạn thường xuyên, cổ phần thường, cổ phần ưu đãi và được sử dụng để tài trợ cho quyết định đầu tư của ngân hàng.
Các chỉ tiêu thường gặp để phản ánh cấu trúc vốn doanh nghiệp gồm tỷ lệ tỷ lệ tự tài trợ và tỷ lệ nợ phải trả trên vốn CSH. Trong luận văn này, để đánh giá ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến KNSL của các NHTMCP Việt Nam, tác giả sử dụng tỷ lệ tự tài trợ làm chỉ tiêu đại diện cho cấu trúc vốn khi nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố này đến KNSL của ngân hàng.2 Khả năng sinh lời 2.1 Khái niệm Khả năng sinh lời (KNSL) là nguồn tiền cơ bản, chính nguồn tiền này có thể bảo toàn vốn, thu hút các nguồn vốn đầu tư, cải thiện trang thiết bị, nâng cao khả năng cạnh tranh và từ đó càng gia tăng lợi nhuận trong tương lai thông qua lợi nhuận giữ lại. Xét ở khía cạnh nhà đầu tư, KNSL cao của ngân hàng được đánh giá là an toàn và có thể bù đắp các khoản rủi ro tiềm ẩn. KNSL là thước đo hiệu quả bằng tiền, đánh giá khả năng tạo ra lợi nhuận của ngân hàng (Demirguc-Kunt, 1989).
Ngân hàng hàng cũng là một doanh nghiệp, điểm khiến ngân hàng trở nên khác biệt với các doanh nghiệp khác là hoạt động kinh doanh đặc thù với hàng hóa giao dịch là tiền. Vì cũng là một doanh nghiệp, nên để đánh giá về năng lực hoạt động của ngân hàng cũng dựa trên KNSL của ngân hàng đó. KNSL là cơ sở để các ngân hàng tích tụ nguồn lực để đổi mới hoạt động, nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng, đa dạng hóa các sản phẩm và nâng cao hiệu quả kinh doanh. Nhìn ở góc độ vĩ mô thì một ngân hàng có lợi nhuận tốt sẽ giúp vượt qua các cú sốc bên ngoài, nâng cao danh tiếng của ngân hàng, giúp hệ thống tài chính đi vào ổn định (Aburime, 2008).
Lợi nhuận là khoản thu nhập dôi ra bằng tổng số thu về trừ tổng số đã chi (Theo Samuelson & Nordhaus, 2001).2 Phương pháp đo lường Thông thường, việc đo lường KNSL thông qua các chỉ tiêu định lượng như lợi nhuận, tốc độ tăng trưởng lợi nhuận, cơ cấu của lợi nhuận và quan trọng hơn là các 9 chỉ tiêu thể hiện tỷ suất sinh lời như tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) và tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM)… nếu các nhóm chỉ số này càng cao chứng tỏ ngân hàng hoạt động càng hiệu quả trong thời gian đo lường. Vì vậy, nhóm chỉ tiêu thể hiện tỷ suất sinh lời là yếu tố quan trọng để đánh giá sức khỏe và KNSL của một ngân hàng. Nhóm các chỉ tiêu đo lường KNSL của ngân hàng: (1) ROE là tỷ lệ phần trăm giữa lợi nhuận thuần so với vốn chủ sở hữu của ngân hàng. Chỉ tiêu này giúp đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của một ngân hàng thương mại hoặc bất kỳ tổ chức kinh tế nào.
Lợi nhuận sau thuế (2.1) ROE = Vốn chủ sở hữu bình quân (2) ROA là tỷ lệ phần trăm giữa lợi nhuận thuần so với tổng tài sản của ngân hàng. Chỉ tiêu này thể hiện được hiệu quả trong công tác quản lý. (3) ROA thể hiện khả năng sinh lợi tổng quát, các nghiên cứu của Gul và c. (2011); Anbar & Alper (2011) đã nêu lý do vì ROA không bị ảnh hưởng bởi đòn bẩy tài chính nên nó là chỉ số phản ánh lượng hóa giá trị của ngân hàng một cách tốt nhất.
ROA đồng thời cũng là thước đo để so sánh các ngân hàng có cùng quy mô với nhau về hiệu quả hoạt động, ngân hàng có ROA cao hơn sẽ thể hiện chính sách kinh doanh và đầu tư có hiệu quả hơn. Tuy nhiên, ROA cũng tồn tại các nhược điểm khi loại bỏ các yếu tố được thể hiện trên tài sản ngoại bảng, một nguồn thu cũng quan trọng của ngân hàng. Lợi nhuận sau thuế (2.2) ROA = Tài sản bình quân (4) NIM được đo lường theo công thức 2. 10 Thu nhập lãi thuần (2.3) NIM = Tài sản sinh lãi NIM được đo lường thông qua tỷ lệ giữa thu nhập từ lãi và chi phí trả lãi thông qua việc kiểm soát chặt chẽ các tài sản có khả năng sinh lời, tối đa hóa mức sinh lời đó, ở chiều ngược lại, kiểm soát giá đầu vào để tối thiểu hóa các chi phí lãi tương ứng.
Tài sản có sinh lời được tính bằng tổng tiền gửi tại ngân hàng nhà nước, các tổ chức tín dụng khác, đầu tư chứng khoán, các tổ chức tín dụng khác và các khoản cho vay khách hàng. Do đó, ngân hàng có hệ số NIM càng cao thì KNSL của ngân hàng càng cao. Thông qua hệ số NIM, ngân hàng cũng có khả năng kiểm soát rủi ro phát sinh từ việc cấp tín dụng để nhắm tới việc tối đa hóa thu nhập lãi. Tuy nhiên, theo Ben Naceur & Goaied (2008), NIM chưa bao gồm chi phí hoạt động khác và thu nhập ngoài lãi nên chưa đưa ra được một bức tranh hoàn thiện về KNSL của ngân hàng.
Các nguồn thu nhập của NHTM có thể kể đến bao gồm: - Từ hoạt động tín dụng: thu lãi từ cho thuê tài chính, từ các khoản lãi cho vay, và thu lãi khác; - Từ hoạt động kinh doanh vàng và ngoại hối; - Từ hoạt động dịch vụ: thu từ hoạt động, doanh thu từ hoạt động tư vấn…thanh toán, nghiệp vụ bảo lãnh, dịch vụ ngân quỹ, nghiệp vụ ủy thác và đại lý, - Từ các hoạt động khác như: kinh doanh chứng khoán, mua bán nợ, kinh doanh bảo hiểm… - Thu từ lãi gửi các tổ chức tín dụng khác; Chi phí là khoản tiền mà ngân hàng phải bỏ ra tương ứng với các khoản thu nhập mang lại, cụ thể: - Chi phí huy động vốn: trả lãi tiền gửi, trả lãi tiền vay từ NHTW, các tổ chức tín dụng khác, chi phí phát hành giấy tờ có giá… - Chi phí dự phòng tổn thất tín dụng và quản lý; 11 - Chi phí kinh doanh vàng và ngoại hối - Chi phí khấu hao tài sản cố định; - Chi phí hoạt động dịch vụ ngân hàng - Chi phí mua bán chứng khoán; - Chi phí nhân viên - Chi phí khác, bao gồm: phí, lệ phí, nộp ngân sách… (5) Đo lường KNSL trên phương diện chỉ số thị trường (P/E : Price to Earning Ratio) Chỉ số P/E là chỉ số thể hiện trực quan, chính xác về thị trường giúp người mua có thể đưa ra quyết định đúng đắn. P/E là chỉ số đánh giá mối quan hệ giữa giá thị trường của cổ phiếu (Price) và thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS). Đôi khi P/E còn được gọi là bội số giá hoặc bội số thu nhập, dùng để xác định giá trị tương đối của cổ phiếu thuộc một công ty. Đây là chỉ số thể hiện mức giá mà nhà đầu tư sẵn sàng bỏ ra cho một đồng lợi nhuận thu được từ một cổ phiếu.
P/E = Giá thị trường của cổ phiếu (Price)/Thu nhập trên một cổ phiếu (EPS) (2.4) Chỉ số P/E cao hay thấp cần được so sánh với P/E toàn ngành cũng như với tốc độ tăng trưởng lợi nhuận và thu nhập dự kiến của ngân hàng.3 Các lý thuyết về cấu trúc vốn 2.1 Lý thuyết Modigliani & Miller (1958) Có thể nói lý thuyết về cấu trúc vốn của Modigliani & Miller (1958) được xem là công trình nghiên cứu có tư duy hiện đại khi nghiên cứu về cấu trúc vốn. Nghiên cứu tiếp theo của Modigliani & Miller (1963) cho thấy bằng việc lãi vay được tính là chi phí hợp lý và trừ ra trước khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp thì sẽ làm lợi cho doanh nghiệp phần tỷ lệ giảm trừ này, đó chính là lá chắn thuế. Chính việc này cho thấy các doanh nghiệp khi sử dụng nợ sẽ làm gia tăng giá trị doanh nghiệp do cấu trúc vốn vay có sự gia tăng.2 Lý thuyết trật tự phân hạng 12 Lý thuyết này được đưa ra bởi Myers & Majluf (1984) từ kết quả nghiên cứu thông tin bất cân xứng.