Chương I. Giới thiệu nghiên cứu Chương II. Cơ sở lý luận và tổng quan các nghiên cứu đi trước Chương III. Phương pháp nghiên cứu Chương IV.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương V. Kết luận và khuyến nghị TÓM TẮT CHƢƠNG 1 Ở chương này, tác giả đã khái quát tổng quan về đề tài được chọn để thực hiện nghiên cứu. Trong chương tiếp theo, sẽ là phần trình bày về các lý thuyết, cơ sở lý luận phục vụ cho nghiên cứu cùng với các nghiên cứu có liên quan đã được thực hiện trước đó. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC Trong chương 2 của bài, tác giả sẽ lược khảo chi tiết về các lý thuyết nền, khái niệm, ảnh hưởng và phân loại đối với cấu trúc sở hữu cũng như rủi ro tín dụng.
Đồng thời bên cạnh đó, tác giả cũng tóm lược qua các nghiên cứu có liên quan đến đề tài thực hiện nghiên cứu và kết quả mà các nghiên cứu đó thu được. Cơ sở lý thuyết về cấu trúc sở hữu 2. Khái niệm cấu trúc sở hữu Zheka (2005) cho rằng cấu trúc sở hữu là sự phân phối tỷ lệ nắm giữ của cổ đông liên quan đến quyền biểu quyết, góp vốn và cả đặc tính của các cổ đông đó. Bên cạnh đó, Omran (2008) cũng nhận định cấu trúc sở hữu là động lực mạnh mẽ để nhà quản lý giành quyền kiểm soát và duy trì hiệu quả hoạt động tốt hơn.
Ngoài ra, ta cũng có thể tiếp cận cơ sở lý luận về cấu trúc sở hữu thông qua các lý thuyết nền về cấu trúc sở hữu như lý thuyết đại diện (Agency Theory) và lý thuyết quản lý (Stewardship Theory). Lý thuyết đại diện (Agency Theory) Khởi nguyên của lý thuyết đại diện là lý thuyết được Jensen & Meckling (1976) phát triển thêm từ lý thuyết kinh tế do Alchian và Demsetz phát triển năm 1972. Theo Jensen và Meckling (1976), “cấu trúc sở hữu được hiểu là sự phân bổ vốn theo tỷ lệ nắm giữ cổ phần của các bên liên quan như những người bên trong (ban quản lý) và bên ngoài (các nhà đầu tư không có vai trò trực tiếp trong việc quản lý công ty)”. Tỷ lệ cơ cấu sở hữu cao nhất cho thấy quyền lực cao hơn của chủ sở hữu trong việc kiểm soát ngân hàng.
Theo đó, lý thuyết đại diện cho rằng “quản trị công ty là mối quan hệ giữa những người đứng đầu chẳng hạn như các cổ đông và các đại diện (có thể là các 6 giám đốc điều hành công ty hay quản lý công ty). Các cổ đông là các chủ sở hữu hoặc là người đứng đầu công ty sẽ thuê những người khác thực hiện công việc điều hành hoạt động của công ty. Những người đứng đầu đại diện cho các cổ đông sẽ ủy quyền điều hành các hoạt động của công ty cho các giám đốc hoặc những người quản lý.” Từ đó, có thể bảo vệ lợi ích của cổ đông bằng cách tách biệt vai trò của giám đốc điều hành và chủ tịch hội đồng quản trị. Lý thuyết đại diện cho rằng các quản lý của công ty sẽ nhận được phần lợi ích cho việc điều hành công ty và điều này có thể hướng tới việc các cổ đông nhận được tối đa lợi ích.
Tuy nhiên hiện nay vẫn còn rất nhiều tranh cãi xoay quanh lý thuyết này như làm thế nào để cổ đông khiến các nhà quản lý hoạt động vì lợi ích lớn nhất mà không có các động cơ tư lợi khác. Lý thuyết quản lý (Stewardship Theory) Lý thuyết quản lý của Donaldson & Davis (1991) đi theo các quan điểm khác với lý thuyết đại diện và cho rằng có thể tối đa hoá lợi ích của cổ đông bằng cách chia sẻ trách nhiệm của những vai trò này. Đối với lý thuyết này lợi ích của nhà quản lý tăng trưởng cùng chiều với lợi ích của cổ đông cùng với công ty. Nên người quản lý sẽ hành động theo chủ nghĩa tập thể (trong khi ở lý thuyết đại diện người quản lý sẽ hoạt động theo lợi ích của cá nhân) vì nó mang lại nhiều ích lợi hơn so với việc hoạt động theo chủ nghĩa cá nhân.
Lý thuyết này dựa trên việc nhà quản lý coi mình là một phần của công ty nên lý thuyết sẽ chú trọng vào việc thay vì giám sát và kiểm soát như ở lý thuyết đại diện thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi và giúp tăng tiềm năng phát triển hơn cho nhà quản lý và cả công ty. Từ đó lý thuyết quản lý cho rằng việc tách biệt vai trò của chủ tịch hội đồng quản trị và giám đốc điều hành là không thực sự cần thiết trong hoạt động quản lý công ty, sự hợp nhất vai trò của chủ tịch hội đồng quản trị với giám đốc điều hành sẽ nâng cao hiệu quả hoạt động đồng thời tạo ra lợi nhuận vượt trội hơn so với việc tách biệt 2 vai trò này. 7 Nhìn chung, cả lý thuyết đại diện và lý thuyết quản lý đều có những lập luận, dẫn chứng theo từng phương hướng khác nhau và mang giá trị tham khảo cao. Chúng ta không thể đánh giá rằng lý thuyết nào tối ưu hơn lý thuyết nào vì chúng còn phụ thuộc vào các loại hình công ty, doanh nghiệp hay các mẫu nghiên cứu khác nhau.
Phân loại cấu trúc sở hữu Berger (2005) nhận định rằng sở hữu ngân hàng bao gồm 2 loại hình là ngân hàng sở hữu nước ngoài, ngân hàng tư nhân sở hữu trong nước và ngân hàng sở hữu nhà nước. Nhưng với trường hợp của các NHTM Việt Nam, tác giả lựa chọn tập trung nghiên cứu tổng quan về hai loại cấu trúc sở hữu cụ thể là sở hữu nước ngoài và sở hữu nhà nước. Có nhiều ý kiến tranh cãi xung quanh tác động của cấu trúc sở hữu đến rủi ro tín dụng của ngân hàng. Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh rằng sở hữu nước ngoài có tương quan ngược chiều đến RRTD.
Ehsan và Javid (2018) đã cho thấy rằng tỷ lệ cổ phiếu do nước ngoài nắm giữ cao hơn có tác động ngược chiều đáng kể đến RRTD. Nhưng bên cạnh đó, nhóm tác giả Agoraki, Delis & Pasiouras (2011) phát hiện ra rằng quyền sở hữu nước ngoài làm giảm rủi ro của ngân hàng ở những nền kinh tế mới nổi. Hay đối với loại hình sở hữu nhà nước, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng những ngân hàng nhà nước chất lượng tín dụng thường kém và RRTD cao hơn những ngân hàng tư nhân. Tương tự, kết quả nghiên cứu của Srairi (2013) tại 10 quốc gia ở MENA và nghiên cứu của Sarker và Nahar (2017) tại các NHTM Bangladesh cho thấy các ngân hàng có tỷ lệ sở hữu nhà nước cao có chất lượng tín dụng kém và nguy cơ mất khả năng thanh toán cao hơn các loại ngân hàng khác.
Trong khi đó, Ehsan và Javid (2018) lại lập luận rằng tỷ lệ cổ phần cao hơn do chính phủ nắm giữ có tác động cùng chiều đến RRTD. Saunders, Elizabeth & Nickolaos (1990) cũng cho rằng các ngân hàng thuộc sở hữu của các cổ đông có khả năng chịu RRTD cao hơn các ngân hàng do 8 các cơ quan Nhà nước kiểm soát tương đương với việc khẩu vị rủi ro của các ngân hàng do cơ quan Nhà nước kiểm soát là thấp hơn so với các ngân hàng thuộc sở hữu của cổ đông. Ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu Cho tới nay, một yếu tố quan trọng nắm vai trò quyết định trong quản trị doanh nghiệp chính là cấu trúc sở hữu. Trong đề tài nghiên cứu về cơ cấu sở hữu nước ngoài lớn và tính thông tin đối với giá cổ phiếu trên toàn thế giới, He (2013) cũng cho rằng cấu trúc sở hữu hiệu quả giúp cải thiện xử lý được nhiều thông tin hơn trong giá cổ phiếu; nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp và tăng chất lượng các thông tin của doanh nghiệp công bố; giúp giải quyết vấn đề của các công ty niêm yết với người đại diện trong quá trình hoạt động và hạn chế vấn đề thị trường chứng khoán xảy ra hiện tượng bất cân xứng thông tin; giúp giảm thiểu chi phí trong việc thu thập thông tin và qua đó giảm chi phí giao dịch cho các nhà đầu tư.
Cơ sở lý thuyết về rủi ro tín dụng 2. Khái niệm rủi ro tín dụng Theo Ủy ban Basel (2000) đã đề cập trong bộ “Những nguyên tắc cho quản trị rủi ro tín dụng” (Principles for the Management of Credit Risk), rủi ro tín dụng được định nghĩa một cách đơn giản nhất là khả năng một bên đi vay hoặc bên đối tác của ngân hàng không thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo các điều khoản đã thỏa thuận. Ngoài ra, Ferhi và Chkoundali (2015) cũng đã định nghĩa rủi ro tín dụng là sự mất mát do sự khước từ hoặc mất khả năng của khách hàng tín dụng hoàn trả những gì còn nợ một cách đầy đủ và đúng hạn. Rủi ro tín dụng là sự nhạy cảm mà các ngân hàng phải đối mặt khi một người đi vay (khách hàng) không thể thực hiện việc tôn trọng các nghĩa vụ nợ vào ngày đáo hạn.
Đến nay đã có nhiều tiếp cận khác nhau về khái niệm rủi ro tín dụng. Thông tư số 11/2021/TT-NHNN do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam ban hành ngày 9 30/07/2021 cũng đã định nghĩa về rủi ro tín dụng như sau: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng (sau đây gọi tắt là rủi ro) là khả năng xảy ra tổn thất đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không có khả năng trả được một phần hoặc toàn bộ nợ của mình theo hợp đồng hoặc thỏa thuận (sau đây gọi chung là thỏa thuận) với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Nguyên nhân phát sinh rủi ro tín dụng Theo Kithinji (2010), nguồn rủi ro tín dụng chính thường bao gồm, chính sách tín dụng không phù hợp, lãi suất không ổn định, quản lý kém, mức vốn và thanh khoản thấp, cho vay trực tiếp, bảo lãnh cho vay kém, đánh giá tín dụng lỏng lẻo, thực tiễn cho vay kém, sự kiểm soát của chính phủ cùng sự giám sát không đầy đủ của Ngân hàng Trung ương. Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng Bộ đôi tác giả Arunkumar & Kotreshwar (2006) đã chỉ ra rằng rủi ro tín dụng gây ra 70 rủi ro cho ngân hàng nói chung trong khi 30 còn lại gây ra bởi rủi ro hệ thống và rủi ro thị trường.