mở đầu cho các hoạt động như sáp nhập, mua lại hoặc thay thế ban lãnh đạo ngân hàng,… (theo Barry, Lepetie và Tarazi (2011)). Phân loại Đo lường mức độ RR liên quan đến sự đo lường mức sinh lợi của NH, bởi vì để thu được một mức lợi nhuận thì NH phải chấp nhận một mức độ RR nào đó. Rủi ro NHTM gồm các loại RR sau: RR tín dụng: Theo Thomas P.Fitch (1997): “RR tín dụng là loại RR xảy ra khi người vay không thanh toán được nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ. Là RR chủ yếu trong hoạt động kinh doanh của NH”.
Theo thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Thông đốc NHNN ban hành: “RR tín dụng trong hoạt động NH (sau đây gọi tắt là RR) là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của TCTD, Chi nhánh NH nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết” Các nguyên nhân phát sinh rủi ro tín dụng: • Phát sinh từ chủ quan khách hàng: Đây là nguyên nhân gây RR phát sinh liên quan đến hành vi và ý chí chủ quan của khách hàng, nằm trong tầm kiểm soát của khách hàng. RR xảy ra có thể là do năng lực quản lý yếu kém của khách hàng từ đó dẫn đến việc sử dụng nguồn vốn vay không hiệu quả, gây thất thoát vốn tác động đến khả năng thanh toán nợ cho NH; hoặc do khách hàng không có thiện chí trong việc trả nợ trong khi biện pháp xử lý thu hồi nợ của NH tỏ ra kém hiệu quả. 12 • Phát sinh từ RR khách quan: Đó là nguyên nhân nằm ngoài tầm kiểm soát của khách hàng như sự thay đổi trong môi trường hoạt động kinh doanh mà khách hàng không thể lường trước được (ví dụ như thay đổi trong giá cả hàng hóa, nhu cầu của thị trường,…), sự thay đổi trong môi trường hay chính sách pháp luật khiến cho các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, thiếu hụt về nguồn tài chính dẫn đến không thể hoặc khó có khả năng phục hồi được,… • Phát sinh từ phía Ngân hàng: RR tín dụng phát sinh có thể là do các nguyên nhân chủ quan như quy trình tín dụng không chặt chẽ, việc thẩm định chất lượng các khoản cấp tín dụng không kỹ lưỡng, từ đó dẫn đến sai lầm trong các quyết định cấp tín dụng, thẩm định hồ sơ tín dụng bởi các cán bộ tín dụng không đủ chuyển môn, thiếu kinh nghiệm hoặc lỏng lẽo trong quá trình kiểm soát sau cấp tín dụng dẫn đến việc khách hàng sẽ sử dụng nguồn vốn vay sai mục đích mà các NH không kịp thời phát hiện,… • RR bảo đảm: RR phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm được quy định tại các điều khoản trong các hợp đồng thế chấp cầm cố, các hợp đồng cấp tín dụng các loại tài sản bảo đảm, chủ thể bảo đảm, cách thức bảo đảm và mức cho vay trên giá trị tài sản bảo đảm… Việc phát sinh RR tín dụng gây ra những hậu quả sau: • Đối với ngân hàng: Nguồn vốn của các NHTM bị thất thoát vì việc không thu hồi được nợ (gốc, lãi và các khoản phí) trong khi vẫn phải chi trả tiền lãi cho nguồn vốn hoạt động từ đó làm cho lợi nhuận NH bị giảm sút và NH phải dùng chính vốn tự có của mình để bù đắp thiệt hại. Điều này làm ảnh hưởng đến quy mô hoạt động của các NHTM.
Mặt khác, tỷ lệ nợ xấu cao sẽ dẫn đến suy giảm niềm tin của người dân, giảm nguồn huy động vốn, dẫn đến RR thanh khoản, đẩy NH đến phá sản, từ đó ảnh hưởng sự ổn định của hệ thống NH. • Đối với khách hàng: Các chủ thế đi vay dẫn đến không hoàn trả được nợ vay cho NH thì dẫn đến không còn tín nhiệm trong hoạt động kinh doanh, 13 dẫn đến khó khăn tiếp cận nguồn vốn từ NH hoặc các nguồn khác. Các chủ thể gửi tiền vào NH có nguy cơ không thu hồi được khoản tiền gửi và lãi nếu như các NH lâm vào tình trạng phá sản. • Đối với nền kinh tế: NHTM là kênh thu hút và cung cấp tiền cho các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân trong nền kinh tế.
Do đó, RR tin ́ du ̣ng có ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế. Ở mức độ thấp, RR tín dụng sẽ khiến cơ hội tiếp cận vốn mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng của các khách hàng bị hạn chế, ảnh hưởng xấu đến khả năng tăng trưởng của nền kinh tế. Ở mức độ cao hơn, khi có một NH lâm vào tình trạng khó khăn dẫn đến phá sản, gây là hiện tượng dây truyền trong hệ thống NH, dẫn đến khủng hoảng nền kinh tế, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống xã hội và sự phát triển của đất nước. Rủi ro vỡ nợ: RR vỡ nợ là loại RR có tính hệ thống (Yuhang Xing (2004).
RR vỡ nợ là loại RR khi mà NH lâm vào tình trạng không có đủ nguồn vốn chủ sở hữu để bù đắp cho sự sụt giảm một cách đột ngột trong giá trị tài sản so với giá trị nợ. RR vỡ nợ này xảy ra là có thể do hậu quả từ những loại RR khác, có thể do thiếu kinh nghiệm trong công tác quản lý điều tiết vĩ mô, hoặc do nền kinh tế suy thoái, tỷ trọng tiền gửi huy động nhỏ mà tập trung chủ yếu vào các khoản cho vay, dẫn đến vỡ nợ ngày càng tăng trong danh mục cho vay của khách hàng (đặc biệt để đảm bảo cho việc thanh toán các khoản nợ vay ngắn hạn đến hạn). RR lãi suất: Là RR xảy ra khi có suy giảm lợi nhuận hoặc tổn thất giá trị các tài sản NH khi phát sinh các thay đổi về lãi suất. RR này có thể xuất hiện trong khi lãi suất trên thị trường tăng lên làm cho các khoản đầu tư, cho vay của các NH bị giảm giá trị dẫn dến NH gặp tổn thất hoặc ngược lại khi lãi suất giảm, NH phải chấp nhận góp vốn đầu tư hoặc cho vay những khoản tiền từ việc huy động ở những mức lãi suất cao vào những tài sản có mức sinh lời không cao.
14 RR tỷ giá: Là loại RR xảy ra do sự thay đổi cả các yếu tố thị trường về mức tỷ giá làm ảnh hưởng tới lợi nhuận và giảm giá trị tổng tài sản của NH. RR thanh khoản: Là loại RR xuất hiện khi trên thị trường thứ cấp khi NH thiếu hụt ngân quỹ hoặc tài sản ngắn hạn có khả năng chuyển đổi thành tiền mặt nhanh nhằm đáp ứng các nhu cầu thanh toán cho người đi vay và người gửi tiền. RR này có thể xảy ra khi các chi phí trong quá trình giao dịch tăng lên hoặc thời gian thực hiện giao dịch sẽ bị kéo dài. Những chi phí phát sinh trong quá trình tìm kiếm nguồn chi trả khác là tổn thất mà các NH gánh chịu.
RR lạm phát: Là RR khi có sự tăng lên về giá cả của các loại hàng hóa, dịch vụ dẫn đến giảm giá trị của tài sản tài chính. Lạm phát gia tăng ở mức cao đã làm suy yếu, có thể gây phá vỡ đến thị trường vốn, tác động lớn đến hoạt động của các NHTM. Khi lạm phát tăng cao sẽ làm sức mua của thu nhập lãi và vốn gốc thu lại từ các hoạt động cho vay và các hoạt động đầu tư bị suy giảm; làm hao mòn giá trị góp vốn đầu tư của các cổ đông; khả năng đảm bảo thanh khoản ngắn hạn NH bị suy giảm, dẫn đến việc huy động vốn ngày càng khó khăn hơn và hệ quả có thể dẫn đến cuộc chạy đua lãi suất; lạm phát tăng cao, các hoạt động tín dụng cho vay bị hạn chế do NHNN thực hiện các biện pháp thắt chặt tiền tệ, khối lượng tiền trong lưu thông bị sụt giảm không đáp ứng đủ nhu cầu về vốn vay trên thị trường. RR công nghệ là RR xảy ra khi NHTM đầu tư phát triển công nghệ nhưng không tận dụng được lợi thế nhờ quy mô cũng như lợi thế đa dạng hóa danh mục.
Khi vượt quá công suất, chính sách công nghệ NH còn lạc hậu, quan liêu và thiếu hiệu quả trong mô hình hoạt động, tổ chức sẽ dẫn đến việc tăng trưởng trong quy mô không đạt hiệu quả. RR môi trường pháp lý là loại RR xuất hiện khi một sự thay đổi nào đó trong những quy định về mặt pháp lý, cách quản lý của Nhà nước và pháp luật. Hệ thống vận hành của hệ thống NHTM không phải lúc nào cũng đáp ứng một cách kịp thời những thay đổi trong những yêu cầu, quy định về mặt pháp lý và cách quản lý, đặc biệt khi có sự thay đổi ở phạm vi toàn cầu. 15 RR chu kỳ kinh tế, thị trường: Những RR này có sự liên quan tới những biến động trong nền kinh tế trong phạm vi toàn cầu, cũng như của quốc gia.
Trong nền kinh tế suy thoái, doanh thu và nguồn thu phí NH sẽ bị giảm sút. RR môi trường tự nhiên, xã hội: Làm tăng đáng kể tần suất, mức độ nghiêm trọng của thiên tai, thảm họa thiên nhiên và điều kiện sinh sống của con người dẫn đến những thiệt hại cho các khách hàng của NH làm cho họ không còn khả năng thanh toán các khoản nợ cho NH. Lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ của cấu trúc sở hữu và rủi ro trong hệ thống NHTM Sau công trình đầu tiên của Berle và Means (1932), các nghiên cứu về những ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu đối với hoạt động và RR trong doanh nghiệp đã được phát triển trong các lý thuyết của Jensen và Meckling (1976), Fama (1980), Shleifer và Vishny (1997). Trong lĩnh vực NH, các bài nghiên cứu thường nghiên cứu chủ yếu về mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và hiệu quả trong hoạt động NH (Micco, Panizza,Yanez (2007), Lensink, Meeste và Naaborg (2008); Lin và Zhang (2009)), trong khi mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và RR trong hệ thống NH thì nghiên cứu còn ít, phần lớn tập trung vào các ngành NH ở Hoa Kỳ và Châu Âu.
Các nghiên cứu có liên quan có thể được chia thành ba loại: Loại thứ nhất nghiên cứu về mối quan hệ giữa quyền sở hữu tập trung và RR; Loại thứ hai nghiên cứu mối quan hệ giữa sở hữu của nhà quản lý và RR; Loại thứ ba nghiên cứu các mối quan hệ giữa bản chất của quyền sở hữu và RR. Loại nghiên cứu đầu tiên: Garcia-Marco và Robles-Fernandez (2008) tìm thấy rằng mức độ quyền sở hữu tập trung trong NHTM có một tác động ngược chiều vào mức độ chấp nhận RR.