CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỞ HỮU CHÉO TRONG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Trong chương này, tác giả tập trung làm rõ các lý thuyết có liên quan đến vấn đề sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng nhằm hệ thống hóa những khía cạnh lý luận sẽ được đề cập tới trong quá trình phân tích. Trên cơ sở đó, nội dung chủ yếu của chương đề cập đến lý thuyết ủy quyền – thừa hành, tổng quan về sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng gồm khái niệm, loại hình và dạng thức, tác động tích cực và tiêu cực, các nhân tố ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa sở hữu chéo và hệ thống ngân hàng, sơ lược các nghiên cứu trước về sở hữu chéo ngân hàng. Sau đây là các nội dung chính. Lý thuyết ủy quyền – thừa hành Ngân hàng là một tổ chức tài chính trung gian, huy động vốn để cho vay.
Do vậy, trục trặc từ mối quan hệ người sở hữu – người điều hành là không tránh khỏi. Nghiên cứu về lý thuyết ủy quyền – thừa hành là cần thiết để chỉ ra những trục trặc này xuất phát từ quá trình sở hữu chéo ngân hàng. Tổng quan về quan hệ ủy quyền – thừa hành Trong một cơ cấu một doanh nghiệp thông thường, chủ sở hữu (người ủy quyền) thuê các nhà quản lý (người thừa hành) và trao cho họ một số quyền để điều hành doanh nghiệp. Nói về vấn đề giữa người ủy quyền – thừa hành, Jensen và Meckling (1976) đã định nghĩa “Mối quan hệ ủy quyền – thừa hành như là một hợp đồng theo đó một hay nhiều người (người chủ sở hữu) thuê một người khác (người thừa hành) thay mặt họ thực hiện một số dịch vụ và được phép đưa ra những quyết định liên quan”.
Quan hệ ủy quyền – thừa hành là một hệ quả của thông tin bất cân xứng vì nó bao gồm cả lựa chọn bất lợi và rủi ro đạo đức. Khi người ủy quyền giao quyền cho người thừa hành, họ sẽ không trực tiếp điều hành công việc và biết được ít thông tin hơn người thừa hành. Bên cạnh đó, người thừa hành và người ủy quyền có thể theo đuổi những mục tiêu không giống nhau. Điều này dễ dẫn tới rủi ro đạo đức hay tâm lý ỷ lại (moral hazard) xảy ra khi người thừa hành có những hành động không phục z 6 vụ lợi ích của người ủy quyền, lợi dụng việc hành vi của mình không thể bị người ủy quyền theo dõi sát sao để trục lợi cho mình và gây hại cho người ủy quyền.
Vì có ít thông tin hơn nên người ủy quyền khó cưỡng chế thi hành, đánh giá hay khuyến khích công việc của người thừa hành. Điều này sẽ dẫn tới sự lựa chọn bất lợi (adverse selection) của người ủy quyền. Trong một ngân hàng, mối quan hệ ủy quyền – thừa hành tồn tại ở nhiều dạng khác nhau. Trước tiên, người gửi tiền “ủy quyền” cho ngân hàng sử dụng tiền gửi của mình để cho vay lại, người gửi tiền không thể biết một cách chắc chắn liệu tiền gửi của mình có được sử dụng một cách cẩn trọng và đúng đắn hay không vì chỉ có ngân hàng mới biết rõ các khoản huy động được giải ngân như thế nào.
Ngân hàng sau đó “thừa hành” sự ủy quyền này thông qua việc cho nhà đầu tư vay lại. Trong mối quan hệ thứ hai này ngân hàng “ủy quyền” cho nhà đầu tư được sử dụng khoản vay cho mục đích nhất định. Nhà đầu tư sau đó “thừa hành” sự ủy quyền này thông qua việc đầu tư theo đúng mục đích được quy định trong hợp đồng vay vốn. Tuy nhiên, ngân hàng cũng rất khó biết một cách chắc chắn liệu khoản tín dụng có được nhà đầu tư sử dụng đúng mục đích cho vay ghi trong hợp đồng hay không, trong khi chỉ có nhà đầu tư biết rõ là mình sử dụng tiền vay vào mục đích gì.
Tương tự, quan hệ ủy quyền – thừa hành trong ngân hàng không chỉ tồn tại giữa người gửi tiền với ngân hàng và giữa ngân hàng với nhà đầu tư, mà còn tồn tại giữa các cổ đông nhỏ với cổ đông lớn, giữa cổ đông với hội đồng quản trị, giữa hội đồng quản trị và ban giám đốc, và giữa ban giám đốc với nhân viên được minh họa trong (xem Hình 1. Điều này dẫn đến hoạt động kinh doanh rủi ro của ngân hàng với những chi phí cho xã hội. Xét về cơ cấu vốn của doanh nghiệp, chi phí ủy quyền bao gồm chi phí ủy quyền của cổ phần (agency cost of equity) và chi phí ủy quyền của nợ (agency cost of debt).1: Các quan hệ ủy quyền – thừa hành trong ngân hàng Nguồn: Vũ Thành Tự Anh và cộng sự (2013) 1. Chi phí ủy quyền của vốn cổ phần Chi phí ủy quyền của vốn cổ phần phát sinh từ mâu thuẫn lợi ích giữa cổ đông và các nhà quản lý công ty.
Khi cổ đông bị giới hạn hoặc mất kiểm soát đối với người quản lý, thì phía quản lý sẽ có động cơ tham gia vào những hoạt động có lợi cho bản thân nhưng có thể phương hại đến quyền lợi của cổ đông. Chi phí ủy quyền – thừa hành của vốn cổ phần cũng xuất phát trong tình huống mà các nhà quản lý thường xuyên thực hiện những chiến lược đầu tư khiến công ty phát triển cao hơn mức tối ưu, hoặc đi vào những lĩnh vực kinh doanh mà công ty không có lợi thế cạnh tranh. Bằng việc thực hiện các hành động này, người quản lý sẽ tự gia tăng quyền hạn cho mình. Trong hoạt động của NHTM, do việc người sở hữu - cổ đông không giám sát được các hoạt động của người quản lý ngân hàng, dẫn đến việc người quản lý có thể lựa chọn các dự án rủi ro để cho vay nhằm hưởng lợi ích cá nhân thay vì lựa chọn các dự án an toàn.
Thông qua sở hữu chéo giữa ngân hàng và doanh nghiệp, cổ đông lớn là các doanh nghiệp thậm chí có thể yêu cầu tổng giám đốc ngân hàng cho vay, đầu tư theo chỉ định hay dựa trên quan hệ của họ mà đúng ra các quyết định này phải dựa trên tính khả thi của dự án và năng lực tài chính quản trị của người vay vốn. Cổ đông thiểu số và nhiều người khác sẽ gánh chịu thiệt hại nếu các hành động rủi ro này gây ra tổn thất. Do vậy, trong bối cảnh tồn tại thông tin bất cân xứng, quy định về giới z 8 hạn sở hữu và các trách nhiệm về minh bạch hóa thông tin tài chính và quá trình điều hành trở nên hết sức quan trọng để tránh sự thao túng của các cổ đông lớn, tăng cường sự giám sát của thị trường, hạn chế các hành vi rủi ro của người điều hành nhân danh lợi ích của một vài cổ đông lớn mà bỏ qua lợi ích của các cổ đông đại chúng. Chi phí ủy quyền của nợ Chi phí ủy quyền của nợ phát sinh từ mâu thuẫn về lợi ích giữa chủ nợ và cổ đông.
Trong một công ty có vay nợ bên ngoài, cổ đông có quyền quyết định việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ dựa vào hiệu quả các dự án đầu tư được tài trợ một phần hay toàn bộ bằng vốn vay. Lựa chọn các dự án an toàn để đầu tư, cổ đông sẽ đảm bảo tốt hơn nghĩa vụ trả nợ. Tuy nhiên sự lựa chọn này chủ yếu mang lại giá trị cho chủ nợ khi hiệu quả thu được từ dự án, thường không quá cao do dự án an toàn ít rủi ro. Nếu dự án đầu tư có suất sinh lợi cao, cổ đông có nhiều giá trị còn lại sau khi trả nợ hơn, từ đó nảy sinh vấn đề cổ đông luôn muốn lựa chọn các dự án rủi ro cao để có suất sinh lợi cao.
Trong kịch bản tốt, cổ đông vẫn chỉ phải trả cho chủ nợ gốc và lãi vay theo hợp đồng, nhưng phần giá trị còn lại của họ lại lớn hơn nhiều so với trường hợp họ lựa chọn dự án an toàn để tiến hành đầu tư. Ngược lại, trong trường hợp dự án thất bại, cổ đông vẫn có thể lựa chọn việc không thực hiện nghĩa vụ trả nợ và chuyển giao quyền kiểm soát công ty cho chủ nợ, theo nguyên tắc trách nhiệm hữu hạn. Như vậy, trong doanh nghiệp có vay nợ tồn tại một xung đột về lợi ích giữa cổ đông và chủ nợ do cổ đông chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phần vốn góp nhưng được quyền sử dụng vốn vay bên ngoài. Điều này làm cho cổ đông ngân hàng có tâm lý hành xử theo hướng chấp nhận rủi ro nhiều hơn, nhất là khi sở hữu chéo tạo điều kiện cho ngân hàng giải ngân cho các dự án theo chỉ định và khi đó thiệt hại nếu xảy ra sẽ dồn gánh nặng lên vai người gửi tiền.
Do đó, các quy định đủ vốn và các hệ số đảm bảo an toàn khác thường được cơ quan giám sát ngân hàng đặt ra nhằm tạo khuôn khổ cho các hoạt động giám sát, góp phần ngăn ngừa các hành vi chấp nhận rủi ro quá mức và rủi do đạo đức của các chủ sở hữu ngân hàng. Tóm lại, mâu thuẫn trong quan hệ ủy quyền – thừa hành dẫn đến hoạt động kinh doanh rủi ro của ngân hàng với những phí tổn cho cả xã hội. Mâu thuẫn này có thể z 9 được điều tiết bằng việc áp đặt các quy định hoạt động an toàn về vốn, giới hạn cho vay – đầu tư, khả năng thanh toán và quản lý nợ xấu. Tuy nhiên cơ chế sở hữu chéo được tạo ra giúp NHTM “lách” các quy định về hoạt động an toàn này.
Tổng quan về sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng 1. Khái niệm sở hữu chéo và sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng “Sở hữu chéo” có nguồn gốc từ thuật ngữ “Cross-ownership” hay “Cross- holding” trong luật Anglo-American, luật Wechseloeitigo Beteiliguo của Đức và bộ luật mới của Pháp. Đây là một hiện tượng phổ biến trên thế giới và là chủ đề nghiên cứu lớn trong giới học thuật, do đó các khái niệm liên quan được tác giả đúc kết dựa trên các nghiên cứu trong quá khứ ở nhiều nước khác nhau. Theo đó, xuất phát từ nghiên cứu về việc thiết lập quan hệ chặt chẽ giữa các công ty ở Nhật Bản và ngân hàng những năm 1990, Scher (2001) định nghĩa “Sở hữu chéo là việc hai hoặc nhiều công ty nắm giữ cổ phần của nhau”.