Ảnh Hưởng Của Cấu Trúc Sở Hữu Đến Rủi Ro Tín Dụng Của Các Ngân Hàng Tại Việt Nam

Luận văn thạc sĩ kinh tế nghiên cứu Ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu đến rủi ro tín dụng của các ngân hàng tại việt nam luận văn thạc sĩ, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân,

Chuyên ngành

Tài chính ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2020

92
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Cấu trúc sở hữu và rủi ro tín dụng

Nghiên cứu này tập trung vào cấu trúc sở hữurủi ro tín dụng của các ngân hàng tại Việt Nam. Cấu trúc sở hữu bao gồm sở hữu nhà nước, sở hữu nước ngoài và sở hữu tư nhân. Kết quả cho thấy sở hữu nhà nước và sở hữu nước ngoài có tác động tích cực trong việc giảm rủi ro tín dụng. Điều này được giải thích bởi sự ổn định và kinh nghiệm quản lý từ các chủ sở hữu này. Rủi ro tín dụng được đo lường thông qua tỷ lệ nợ xấu và dự phòng rủi ro tín dụng. Các biến số đặc thù của ngân hàng và yếu tố kinh tế vĩ mô cũng ảnh hưởng đáng kể đến rủi ro tín dụng.

1.1. Sở hữu nhà nước và rủi ro tín dụng

Sở hữu nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc giảm rủi ro tín dụng tại các ngân hàng tại Việt Nam. Các ngân hàng có sở hữu nhà nước thường được hưởng lợi từ sự hỗ trợ của chính phủ, giúp họ duy trì tính thanh khoản và ổn định tài chính. Nghiên cứu chỉ ra rằng sở hữu nhà nước có tác động tích cực đến việc giảm tỷ lệ nợ xấu, đặc biệt trong giai đoạn kinh tế bất ổn. Điều này phản ánh khả năng quản lý rủi ro hiệu quả của các ngân hàng này.

1.2. Sở hữu nước ngoài và rủi ro tín dụng

Sở hữu nước ngoài cũng có tác động tích cực đến rủi ro tín dụng. Các nhà đầu tư nước ngoài thường mang theo kinh nghiệm quản lý và công nghệ tiên tiến, giúp cải thiện chất lượng tín dụng và giảm thiểu rủi ro. Nghiên cứu cho thấy các ngân hàng có sở hữu nước ngoài thường có tỷ lệ nợ xấu thấp hơn so với các ngân hàng khác. Điều này cho thấy sự hiện diện của nhà đầu tư nước ngoài có thể giúp tăng cường quản trị rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động.

II. Yếu tố kinh tế vĩ mô và rủi ro tín dụng

Các yếu tố kinh tế vĩ mô như lạm phát, tăng trưởng GDP và chính sách tiền tệ có ảnh hưởng đáng kể đến rủi ro tín dụng. Lạm phát cao làm giảm giá trị thực của thu nhập, ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng trả nợ của người vay. Tăng trưởng GDP cao thường đi kèm với việc giảm tỷ lệ nợ xấu do dòng tiền ổn định. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các biến số kinh tế vĩ mô có tác động lớn hơn so với các biến số đặc thù của ngân hàng trong việc xác định rủi ro tín dụng.

2.1. Lạm phát và rủi ro tín dụng

Lạm phát cao có tác động tiêu cực đến rủi ro tín dụng. Khi lạm phát tăng, giá trị thực của thu nhập giảm, làm giảm khả năng trả nợ của người vay. Điều này dẫn đến việc tăng tỷ lệ nợ xấu và rủi ro tín dụng. Nghiên cứu chỉ ra rằng lạm phát là một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của các ngân hàng tại Việt Nam.

2.2. Tăng trưởng GDP và rủi ro tín dụng

Tăng trưởng GDP có tác động tích cực đến rủi ro tín dụng. Khi nền kinh tế tăng trưởng, dòng tiền ổn định giúp người vay dễ dàng trả nợ, dẫn đến việc giảm tỷ lệ nợ xấu. Nghiên cứu cho thấy trong giai đoạn kinh tế phát triển, các khoản nợ xấu thường giảm do khả năng chi trả của người vay được cải thiện. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của tăng trưởng kinh tế trong việc quản lý rủi ro tín dụng.

III. Quản lý rủi ro tín dụng

Quản lý rủi ro tín dụng là yếu tố then chốt để duy trì sự ổn định của hệ thống ngân hàng. Các ngân hàng cần áp dụng các chiến lược quản lý rủi ro hiệu quả, bao gồm việc trích lập dự phòng rủi ro và phân tích rủi ro kỹ lưỡng. Nghiên cứu chỉ ra rằng việc trích lập dự phòng rủi ro cao hơn thường đi kèm với chất lượng tín dụng kém hơn, dẫn đến rủi ro tín dụng cao hơn. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đánh giá rủi ro chính xác và kịp thời.

3.1. Trích lập dự phòng rủi ro

Trích lập dự phòng rủi ro là một công cụ quan trọng trong việc quản lý rủi ro tín dụng. Khi tỷ lệ nợ xấu tăng, các ngân hàng cần trích lập dự phòng cao hơn để đối phó với các khoản nợ không thể thu hồi. Nghiên cứu chỉ ra rằng việc trích lập dự phòng rủi ro cao hơn thường phản ánh chất lượng tín dụng kém hơn, dẫn đến rủi ro tín dụng cao hơn. Điều này nhấn mạnh sự cần thiết của việc quản lý rủi ro chủ động và hiệu quả.

3.2. Phân tích rủi ro

Phân tích rủi ro là bước quan trọng trong việc quản lý rủi ro tín dụng. Các ngân hàng cần đánh giá kỹ lưỡng các yếu tố rủi ro tiềm ẩn, bao gồm cả yếu tố đặc thù của ngân hàng và yếu tố kinh tế vĩ mô. Nghiên cứu chỉ ra rằng việc phân tích rủi ro chính xác và kịp thời có thể giúp giảm thiểu rủi ro tín dụng và duy trì sự ổn định của hệ thống ngân hàng. Điều này đòi hỏi sự kết hợp giữa công nghệ tiên tiến và kinh nghiệm quản lý.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Lời mở đầu. Chương 2: Khung lý thuyết và tổng quan một số nghiên cứu trước về ảnh hưởng cấu trúc sở hữu đến rủi ro tín dụng của các ngân hàng. Chương 3: Mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu đến rủi ro tín dụng của các ngân hàng tại Việt Nam. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.

Chương 5: Kết luận và đưa ra các hàm ý chính sách. 5 CHƯƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN MỘT SỐ NGHIÊN CỨU TRƯỚC VỀ ẢNH HƯỞNG CẤU TRÚC SỞ HỮU ĐẾN RỦI RO TÍN DỤNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG 2. Khung lý thuyết về rủi ro tín dụng 2. Khái niệm Trong cuốn “Risk Management in Banking” của Bessis (2010) định nghĩa rủi ro tín dụng là rủi ro thua lỗ khi một bên có nghĩa vụ không thể thực hiện được nghĩa vụ của mình cụ thể là người vay không thể thanh toán các khoản nợ vay theo yêu cầu.

Khoản lỗ tiềm tàng bao gồm gốc, lãi của khoản nợ và cả chi phí nhờ thu. Khoản lỗ này có thể ít hơn nếu người vay có thể thanh toán một phần khi khoản nợ đến hạn. Hoặc trong tình huống khả quan hơn, rủi ro tín dụng xảy ra khi chất lượng tín dụng của người đi vay giảm đi khiến cho khoản vay có rủi ro cao hơn. Cùng quan điểm này, Bielecki và Rutkowski (2013) cho rằng rủi ro tín dụng là rủi ro liên quan đến bất kỳ loại sự kiện nào liên quan đến tín dụng, chẳng hạn như: khả năng một đối tác trong hợp đồng tài chính sẽ không thực hiện cam kết hợp đồng để đáp ứng các nghĩa vụ của họ được ghi trong hợp đồng, thay đổi chất lượng tín dụng (xếp hạng tín dụng cao hơn hoặc thấp hơn), chênh lệch tín dụng biến động (chênh lệch giữa lợi suất của trái phiếu chính phủ Mỹ với những chứng khoán nợ khác có cùng thời gian đáo hạn nhưng khác nhau về chất lượng tín dụng có sự thay đổi).

Rủi ro tín dụng là một khái niệm gắn liền với ngân hàng và hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Rủi ro tín dụng được coi là rủi ro gây tổn thất lớn nhất cho ngân hàng nhất là những ngân hàng có hoạt động sinh lời chủ yếu từ nghiệp vụ tín dụng. Theo định nghĩa của Hiệp ước Basel III năm 2010 rủi ro tín dụng là khả năng ngân hàng sẽ bị mất một phần hoặc toàn bộ khoản vay từ những sự kiện đe dọa khả năng thanh toán của khách hàng bao gồm: phá sản của khách hàng hoặc khách hàng không muốn thanh toán nợ vay. 6 Ngoài ra rủi ro tín dụng còn được định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi, hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng.

Rủi ro tín dụng tức là việc chi trả bị trì hoãn thậm chí là không thể hoàn trả gốc. Điều này gây ra vấn đề đối với dòng lưu chuyển tiền tệ và ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng (Greuning và Bratanovic, 2003). Tại Việt Nam, Theo Mục a Khoản 24 Điều 2 Thông 41/2016/TT-NHNN ban hành ngày 30/12/2016 quy định rủi ro tín dụng là rủi ro do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng hoặc thỏa thuận với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, trừ các rủi ro do đối tác không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ thanh toán trước hoặc khi đến hạn của các giao dịch tự doanh; giao dịch repo và giao dịch reverse repo; giao dịch sản phẩm phái sinh để phòng ngừa rủi ro; giao dịch mua bán ngoại tệ, tài sản tài chính với mục đích phục vụ nhu cầu của khách hàng, đối tác. Như vậy dù định nghĩa và khái niệm về rủi ro tín dụng được thể hiện theo nhiều cách khác nhau nhưng đều hàm ý chung là những tổn thất ngân hàng phải gánh chịu khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán.

Chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng 2. Tỷ lệ nợ xấu Theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN và Thông tư 02/2013/TT-NHNN nợ xấu là các khoản nợ được phân loại thành 5 nhóm theo phương pháp định tính: Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm các khoản nợ được TCTD đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn; Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm các khoản nợ được TCTD đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ; Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm các khoản nợ được TCTD đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn, có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi; Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm các khoản nợ được TCTD đánh giá là khả năng tổn thất cao; Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm các khoản nợ được tổ chức tín 7 dụng đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn. Nợ xấu là các khoản nợ thuộc nhóm 3, nhóm 4, nhóm 5 và tỷ lệ nợ xấu được tính như sau: Nợ xấu Tỷ lệ nợ xấu = (1.1) Tổng dư nợ Tỷ lệ nợ xấu được coi là chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng truyền thống được sử dụng nhiều trong nghiên cứu trong và ngoài nước như: Srairi (2013), Dong, Meng, Firth và Hou (2014), Nguyễn Lương Vy (2017)…Nợ xấu phản ánh chất lượng tài sản của ngân hàng vì vậy khi nợ xấu tăng lên do chất lượng cho vay bị giảm sút sẽ tác động tiêu cực đến giá trị thị trường của tài sản ngân hàng và thu nhập của ngân hàng, gây tổn thất cho ngân hàng, nợ xấu càng cao rủi ro tín dụng càng cao (Delis và Kouretas, 2011). Dự phòng rủi ro tín dụng Dự phòng rủi ro tín dụng là số tiền được trích lập và hạch toán vào chi phí hoạt động để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với nợ của các TCTD.

Dự phòng rủi ro tín dụng bao gồm dự phòng cụ thể và dự phòng chung trong đó tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể tương ứng với nhóm nợ: 1, 2, 3, 4, 5 lần lượt là 0%, 5%, 20%, 50% và 100% như vậy các TCTD đã phải trích lập dự phòng ngay từ nhóm nợ cần chú ý. Dự phòng chung phải trích được xác định bằng 0,75% tổng số dư các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4. Dự phòng rủi ro tín dụng quan hệ cùng chiều với tỷ lệ nợ xấu, trích lập dự phòng tăng lên nghĩa là nợ xấu tăng lên kéo theo rủi ro tín dụng tăng (Ahmed và cộng sự, 1998). Theo Knaup và Wagner (2012) sử dụng Chỉ số rủi ro tín dụng (CRI) là tỷ lệ của các khoản vay rủi ro cao trong danh mục cho vay thể hiện dưới dạng giá trị thị trường, kết quả nghiên cứu cho thấy hai thước đo truyền thống về rủi ro tín dụng của ngân hàng là các khoản nợ xấu và các khoản dự phòng rủi ro cho vay có ảnh hưởng tích cực và có liên quan đáng kể đến CRI.

Tại Việt Nam, dưới góc độ nghiên cứu, việc thu thập số liệu về rủi ro tín dụng sử dụng chỉ tiêu dự phòng rủi ro cho vay trở nên dễ dàng hơn nhiều vì chỉ tiêu này thể hiện trong báo cáo tài chính của ngân hàng với con số đáng tin cậy hơn so với 8 chỉ tiêu nợ xấu mà ngân hàng công bố (Nguyễn Hữu Tài và Nguyễn Thị Thu Nga, 2017). Hệ số an toàn vốn CAR Thông tư số 13/2018/TT-NHNN được ban hành ngày 18/5/2018 quy định về hệ số an toàn vốn tối thiểu CAR – capital adequacy ratio như sau: Vốn tự có Tỷ lệ an toàn vốn riêng lẻ = (1.2) Tổng tài sản “Có” rủi ro Vốn tự có hợp nhất Tỷ lệ an toàn vốn hợp nhất = (1.3) Tổng tài sản “Có” rủi ro hợp nhất Trong đó: Vốn tự có bao gồm vốn cấp 1 và vốn cấp 2. Tài sản “Có” rủi ro là tổng giá trị tài sản “Có” xác định theo mức độ rủi ro và giá trị tài sản “Có” tương ứng của cam kết ngoài bảng theo hệ số chuyển đổi. Trong bài nghiên cứu về tác động của quản lý rủi ro tín dụng đến hiệu quả tài chính của các NHTM tại Nepal, Poudel (2012) đã sử dụng hệ số an toàn vốn tối thiểu là một thông số đo lường rủi ro tín dụng.

Vì quản lý rủi ro nói chung có đóng góp rất lớn vào hoạt động của ngân hàng nên các ngân hàng được khuyến nghị nên chú trọng hơn vào quản lý rủi ro. Để giảm rủi ro cho các khoản vay và đạt được hiệu quả ở mức tối đa các ngân hàng cần duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu. Sử dụng mẫu dữ liệu thống kê từ 11 ngân hàng thương mại Việt Nam bao gồm ACB, BIDV, Eximbank, MB, Sacombank, SHB, Techcombank, VIB, Vietcombank, Vietinbank và Vpbank trong giai đoạn từ 2008 đến 2013 Dao và Ankenbrand (2014) đưa ra kết luận để giảm các yếu tố rủi ro, duy trì sự lành mạnh và sự an toàn của ngân hàng, các ngân hàng cần tăng nguồn vốn tự có tạo ra tỷ lệ an toàn vốn cao hơn. Khung lý thuyết về cấu trúc sở hữu 2.

Khái niệm Cấu trúc sở hữu là sự phân phối tỷ lệ sở hữu của cổ đông liên quan đến quyền biểu quyết, vốn góp và cả đặc tính của các cổ đông đó (Zheka, 2005). Một khái niệm khác về cấu trúc sở hữu của Camisón-Haba, Clemente, Forés và Grueso- Gala (2020) cho rằng cấu trúc sở hữu là cơ cấu nội bộ của một công ty xác định các quyền và nghĩa vụ của những người có lợi ích hợp pháp hoặc cổ phần trong đó. Chỉ tiêu đo lường cấu trúc sở hữu 2. Tập trung sở hữu Có nhiều khái niệm về sở hữu tập trung và nhiều biện pháp đo lường mức dộ tập trung sở hữu.

Theo Pedersen và Thomsen (1999) quyền sở hữu tập trung là quyền sở hữu của các nhà đầu tư nắm giữ được nhiều lượng cổ phần nhất và gánh chịu những tác động đến các chi phí cho hoạt động giám sát và rủi ro. Nikolić và Babić (2016) cho rằng sở hữu tập trung là việc có ít nhất một cổ đông sở hữu số lượng cổ phiếu có khả năng kiểm soát và chi phối việc ra các chiến lược mang tính quyết định. Chủ sở hữu đóng vai trò lớn trong việc kiểm soát các nhà quản trị nhằm khắc phục các lỗ hổng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Cấu Trúc Sở Hữu Ảnh Hưởng Đến Rủi Ro Tín Dụng Ngân Hàng Tại Việt Nam" phân tích mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và rủi ro tín dụng trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Tác giả chỉ ra rằng cấu trúc sở hữu có thể tác động mạnh mẽ đến khả năng quản lý rủi ro tín dụng, từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Bài viết cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách mà các ngân hàng có thể tối ưu hóa cấu trúc sở hữu để giảm thiểu rủi ro tín dụng, từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản lý rủi ro tín dụng trong ngân hàng, bạn có thể tham khảo tài liệu "Nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam", nơi phân tích các yếu tố khác nhau tác động đến rủi ro tín dụng. Ngoài ra, tài liệu "Kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay hộ kinh doanh của ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam" sẽ cung cấp những giải pháp cụ thể trong việc kiểm soát rủi ro tín dụng. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về "Hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp tại ngân hàng TMCP Quân đội chi nhánh Đà Nẵng", tài liệu này sẽ giúp bạn nắm bắt các biện pháp thực tiễn để giảm thiểu rủi ro trong cho vay doanh nghiệp. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề rủi ro tín dụng trong ngân hàng.