Tổng quan nghiên cứu

Hoạt động cấp tín dụng là nguồn tạo ra hơn 70% tổng doanh thu của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam, đồng thời cũng là mảng kinh doanh tiềm ẩn nguy cơ tổn thất lớn nhất. Giai đoạn 2009 - 2018 chứng kiến nhiều biến động sâu rộng khi tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống tăng vọt từ 2,04% năm 2010 lên đỉnh 4,93% vào tháng 9/2012, trước khi giảm dần về mức 1,91% vào cuối năm 2018 nhờ các chính sách tái cơ cấu quyết liệt. Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là phân tích định lượng tác động của cấu trúc sở hữu (bao gồm sở hữu Nhà nước và sở hữu nước ngoài) cùng các nhân tố nội tại và kinh tế vĩ mô đến rủi ro tín dụng tại 28 ngân hàng thương mại Việt Nam trong khoảng thời gian 10 năm. Luận văn làm rõ mức độ và chiều hướng tác động của từng hình thức sở hữu đến chất lượng danh mục cho vay, kiểm định vai trò giám sát của cổ đông chiến lược nước ngoài và cơ quan đại diện vốn Nhà nước. Về mặt thực tiễn, công trình đóng góp bộ bằng chứng thực nghiệm giá trị trên 280 quan sát, cung cấp luận cứ khoa học tin cậy giúp các nhà quản trị ngân hàng và Ngân hàng Nhà nước hoạch định chính sách kiểm soát nợ xấu dưới ngưỡng an toàn 3%, hoàn thiện cơ cấu vốn và gia tăng tính bền vững cho toàn bộ hệ thống tài chính quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng dựa trên lý thuyết người đại diện kinh điển của Jensen và Meckling (1976) cùng lý thuyết cấu trúc sở hữu của Zheka (2005) và Pedersen và Thomsen (1999). Theo lý thuyết người đại diện, sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền điều hành làm nảy sinh xung đột lợi ích, đòi hỏi cơ chế giám sát từ các cổ đông lớn nhằm hạn chế tình trạng chấp nhận rủi ro quá đà. Luận văn chuẩn hóa 4 khái niệm nền tảng: tỷ lệ nợ xấu (NPL) xác định theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN gồm nợ nhóm 3, nhóm 4 và nhóm 5 trên tổng dư nợ; tỷ lệ sở hữu Nhà nước (GOV); tỷ lệ sở hữu nước ngoài (FOR) theo giới hạn trần 30% quy định tại Nghị định 01/2014/NĐ-CP; và tỷ lệ an toàn vốn (CAR) theo Thông tư 41/2016/TT-NHNN. Khung phân tích kế thừa các mô hình quốc tế của Laeven (1999), Cornett và cộng sự (2010) cùng nghiên cứu của Dong và cộng sự (2014) về quản trị ngân hàng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng mẫu dữ liệu thứ cấp từ 28 ngân hàng thương mại Việt Nam đại diện cho hơn 85% quy mô tài sản toàn ngành trong giai đoạn 10 năm từ 2009 đến 2018. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích loại bỏ các ngân hàng bị mua bán sáp nhập (M&A) hoặc gián đoạn số liệu để hình thành bộ dữ liệu bảng không cân bằng gồm 280 quan sát từ nguồn FiinPro, Bankscope, báo cáo tài chính kiểm toán và World Bank. Tác giả thực hiện hồi quy đa biến qua 3 mô hình: OLS gộp (Pooled OLS), tác động cố định (FEM) và tác động ngẫu nhiên (REM). Kiểm định F-test với giá trị xác suất Prob > F = 0,0000 khẳng định tính phù hợp vượt trội của mô hình FEM so với Pooled OLS. Để giải quyết triệt để hiện tượng phương sai sai số thay đổi, tự tương quan và tính nội sinh của các biến tài chính ngân hàng, phương pháp ước lượng GMM hệ thống một bước (One-step System GMM) được lựa chọn làm công cụ ước lượng tối ưu, bảo đảm tính vững qua kiểm định Sargan và Arellano-Bond.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thống kê mô tả 280 quan sát chỉ ra tỷ lệ nợ xấu bình quân của 28 ngân hàng giai đoạn 2009 - 2018 ở mức 2,33%, dao động từ 0% đến mức cao nhất 12,46% tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB) năm 2010. Tỷ lệ sở hữu nước ngoài đạt trung bình 8,83% (chạm trần 30% tại một số đơn vị như Eximbank, VietinBank, ACB), trong khi sở hữu Nhà nước đạt bình quân 12,87%. Kết quả hồi quy GMM hệ thống một bước mang lại 4 phát hiện nổi bật:

  • Thứ nhất, sở hữu nước ngoài tác động ngược chiều có ý nghĩa thống kê đến tỷ lệ nợ xấu, chứng minh vốn ngoại giúp thắt chặt kỷ luật thẩm định và giảm thiểu rủi ro tín dụng.
  • Thứ hai, sở hữu Nhà nước có mối quan hệ nghịch chiều với nợ xấu nhờ ưu thế quy mô, mạng lưới huy động vốn và sự giám sát chặt chẽ từ Ngân hàng Nhà nước.
  • Thứ ba, tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng (LLR bình quân 1,11%) tác động cùng chiều ở mức ý nghĩa 1% đến nợ xấu, phản ánh danh mục cho vay kém chất lượng buộc ngân hàng phải tăng chi phí trích lập.
  • Thứ tư, tăng trưởng kinh tế (GDP bình quân 6,18%) và mức độ tập trung ngành (HHI bình quân 0,0873) tác động nghịch chiều đến rủi ro tín dụng, trong khi lạm phát (INF bình quân 6,52%) làm gia tăng nợ xấu.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu thực nghiệm được lượng hóa chi tiết qua bảng ma trận tương quan giữa các biến độc lập (tất cả hệ số tương quan đều dưới 0,80, loại trừ nguy cơ đa cộng tuyến) kết hợp với biểu đồ đường diễn biến nợ xấu hệ thống 2009 - 2018. Tác động tích cực của sở hữu nước ngoài trong việc kiềm chế nợ xấu hoàn toàn tương đồng với kết luận của Laeven (1999) và Crystal và cộng sự (2002). Việc các đối tác chiến lược nước ngoài nắm giữ tỷ lệ lớn như Mizuho Bank nắm 15% tại Vietcombank, MUFG Bank nắm 19,73% tại VietinBank hay CommonWealth Bank nắm 20,14% tại VIB đã thúc đẩy quy trình kiểm soát rủi ro chuẩn mực quốc tế. Điểm khác biệt so với nghiên cứu của Cornett và cộng sự (2010) là tại Việt Nam, sở hữu Nhà nước đóng vai trò nâng đỡ thanh khoản và hạn chế nguy cơ đổ vỡ dây chuyền. Xu hướng nợ xấu giảm từ 4,93% năm 2012 xuống 1,91% năm 2018 phản ánh rõ nét hiệu quả xử lý 163,14 nghìn tỷ đồng nợ xấu năm 2018, trong đó dự phòng rủi ro xử lý 49% và bán nợ cho VAMC xử lý 17%.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả thực nghiệm, nghiên cứu đề xuất 4 giải pháp trọng tâm nhằm tối ưu hóa cơ cấu sở hữu và kiểm soát rủi ro tín dụng:

  • Nới lỏng linh hoạt tỷ lệ sở hữu nước ngoài: Ngân hàng Nhà nước và Chính phủ cần nghiên cứu nâng giới hạn trần sở hữu nước ngoài từ 30% lên mức 35% - 40% đối với các ngân hàng tiên phong áp dụng chuẩn Basel II/Basel III trong giai đoạn 2021 - 2025 nhằm thu hút công nghệ chấm điểm tín dụng hiện đại, giảm tỷ lệ nợ xấu toàn ngành xuống dưới 1,5%.
  • Tăng cường cơ cấu lại sở hữu Nhà nước: Cơ quan quản lý vốn Nhà nước cần đẩy mạnh lộ trình cổ phần hóa, giảm tỷ lệ nắm giữ Nhà nước tại các ngân hàng thương mại quốc doanh về mức 51% - 65% đến năm 2025, đồng thời xử lý triệt để 6 nhóm sở hữu chéo phức tạp theo khuyến nghị của Ủy ban Kinh tế Quốc hội.
  • Nâng cao đệm vốn và chuẩn hóa trích lập dự phòng: Ban điều hành các ngân hàng thương mại cần bảo đảm tỷ lệ an toàn vốn (CAR) tối thiểu từ 8% đến 10% theo Thông tư 41/2016/TT-NHNN, thực hiện trích lập dự phòng cụ thể từ 5% đến 100% theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN để chủ động phòng ngừa tổn thất phát sinh.
  • Đẩy mạnh xử lý nợ xấu qua thị trường mua bán nợ: Các tổ chức tín dụng cần phối hợp chặt chẽ với VAMC khai thác hiệu quả cơ chế của Nghị quyết 42/2017/QH14 nhằm rút ngắn thời gian xử lý tài sản bảo đảm, bảo đảm tỷ lệ thu hồi nợ xấu hàng năm duy trì trên mức 20% tổng nợ xấu tồn đọng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn mang lại giá trị học thuật và thực tiễn thiết thực cho 4 nhóm đối tượng:

  • Ban điều hành và Hội đồng quản trị ngân hàng thương mại: Ứng dụng mô hình đánh giá rủi ro trên 280 quan sát để tối ưu hóa danh mục cổ đông và xây dựng chiến lược quản trị nợ xấu theo thông lệ quốc tế.
  • Cơ quan quản lý Nhà nước (NHNN, Bộ Tài chính): Sử dụng bằng chứng thực nghiệm làm căn cứ hoàn thiện quy chế sở hữu cổ phần theo Nghị định 01/2014/NĐ-CP và giám sát nợ xấu toàn hệ thống dưới ngưỡng an toàn 3%.
  • Nhà đầu tư chiến lược và tổ chức tài chính quốc tế: Nhận diện chính xác chất lượng tài sản và mức độ an toàn vốn của các ngân hàng Việt Nam có vốn ngoại từ 15% đến 30% trước khi thực hiện các thương vụ mua bán sáp nhập (M&A).
  • Giảng viên và học viên cao học ngành Tài chính - Ngân hàng: Sử dụng luận văn làm tài liệu nghiên cứu chuyên khảo về phương pháp ước lượng One-step System GMM và cơ cấu sở hữu ngành ngân hàng.

Câu hỏi thường gặp

Cấu trúc sở hữu tác động như thế nào đến rủi ro tín dụng tại Việt Nam?

Nghiên cứu trên 28 ngân hàng thương mại giai đoạn 2009 - 2018 cho thấy sở hữu nước ngoài và sở hữu Nhà nước đều góp phần làm giảm tỷ lệ nợ xấu (trung bình toàn mẫu 2,33%). Cổ đông ngoại mang lại công nghệ quản trị chuẩn mực, trong khi vốn Nhà nước tạo dựng niềm tin và sự hỗ trợ thanh khoản ổn định.

Tỷ lệ sở hữu nước ngoài tối đa tại ngân hàng thương mại Việt Nam là bao nhiêu?

Căn cứ Điều 7 Nghị định 01/2014/NĐ-CP, tổng mức sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài không được vượt quá 30% vốn điều lệ. Tỷ lệ tối đa cho một cá nhân nước ngoài là 5%, và một nhà đầu tư chiến lược nước ngoài là 20%, điển hình như KEB Hana Bank sở hữu 15% tại BIDV.

Tại sao nghiên cứu sử dụng mô hình GMM hệ thống thay vì Pooled OLS hay FEM?

Dữ liệu bảng gồm 28 ngân hàng qua 10 năm tồn tại hiện tượng tự tương quan, phương sai sai số thay đổi và tính nội sinh giữa nợ xấu với các biến tài chính. Phương pháp One-step System GMM xử lý trọn vẹn các khuyết tật này, bảo đảm ước lượng không bị chệch qua kiểm định Sargan và Arellano-Bond.

Tăng trưởng tín dụng nhanh ảnh hưởng thế nào đến rủi ro nợ xấu?

Tốc độ tăng trưởng tín dụng bình quân đạt 31,00% trong giai đoạn nghiên cứu. Mở rộng tín dụng quá nóng thường đi kèm với việc nới lỏng thẩm định, tạo ra rủi ro nợ xấu tích tụ với độ trễ 2 - 3 năm, từng đẩy nợ xấu hệ thống lên mức đỉnh 4,93% vào năm 2012.

Tác động của các biến số kinh tế vĩ mô đến nợ xấu ngân hàng ra sao?

Tăng trưởng kinh tế (GDP bình quân 6,18%) tác động ngược chiều giúp khách hàng gia tăng thu nhập và trả nợ đúng hạn. Ngược lại, lạm phát (INF bình quân 6,52%, đạt đỉnh 18,68% năm 2011) làm xói mòn giá trị thu nhập thực tế, làm suy giảm khả năng thanh toán và gia tăng nợ xấu.

Kết luận

  • Luận văn cung cấp bức tranh toàn diện về tác động của cấu trúc sở hữu đến nợ xấu qua mẫu nghiên cứu 28 NHTM Việt Nam giai đoạn 2009 - 2018 với 280 quan sát.
  • Phương pháp One-step System GMM khẳng định sở hữu nước ngoài và sở hữu Nhà nước có vai trò tích cực trong việc kiểm soát rủi ro tín dụng, duy trì nợ xấu bình quân ở mức 2,33%.
  • Các yếu tố nội tại như dự phòng rủi ro (1,11%) cùng yếu tố vĩ mô như tăng trưởng GDP (6,18%) và lạm phát (6,52%) là những nhân tố trọng yếu quyết định chất lượng tín dụng.
  • Đóng góp thực tiễn lớn nhất của luận văn là luận cứ khoa học hỗ trợ Ngân hàng Nhà nước hoàn thiện chính sách nới trần vốn ngoại 30% và xóa bỏ sở hữu chéo.
  • Trong giai đoạn tới, toàn hệ thống cần đẩy mạnh chuẩn hóa quản trị theo Basel II/Basel III, kiểm soát nợ xấu dưới 2% và tận dụng Nghị quyết 42/2017/QH14 để phát triển an toàn, bền vững.