mở đầu của việc ứng dụng mô hình Arbitrage Pricing Theory (APT) của Chen, N. và cộng sự (1986) tại thị trường Mỹ. Các nghiên cứu đã dần mở rộng ra ở các thị trường khác nhau: thị trường các nước phát triển, thị trường các nước đang phát triển và cả thị trường các nước mới nổi. Và bài nghiên cứu này cũng nhằm tìm kiếm thêm một minh chứng thực nghiệm tại một thị trường mới nổi là Việt Nam về mối tương quan giữa 7 biến vĩ mô là các biến: chỉ tiêu hoạt động kinh tế, chỉ số giá tiêu dùng, cung tiền, giá dầu, tỷ giá, lãi suất, chỉ số MSCI Châu Á Thái Bình Dương với biến CSG chứng khoán VN-index.
Tầng suất lấy dữ liệu theo tháng và thời gian thực hiện nghiên cứu là từ tháng 12/2006-7/2012. Bằng việc sử dụng mô hình hồi qui Vector autoregression (VAR) đã cho chúng ta kết quả là biến CSG VN-index chịu ảnh hưởng bới các nhân tố độ trễ CSG VN-index, giá dầu thô – OIL, chỉ số MSCI Châu Á Thái Bình Dương- MSCI, lãi suất – IR, chỉ số lạm phát – CPI. Và CSG VN-Index chỉ tác động đến chỉ số lạm phát. Bằng kiểm định phân rã phương sai (Variance Decomposition) cho chúng ta kết quả là trong cả ngắn hạn và dài hạn thì biến động của CSG VN- index được giải thích chủ yếu là biến động của chính bản thân.
Kết quả của hàm phản ứng đẩy(Impulse Response Function) cho chúng ta thấy rằng CSG VN-index phản ứng trong ngắn hạn cùng chiều với cú sốc của dầu lửa, lãi suất và tỷ giá và phản ứng trái chiều với cú sốc chỉ số sản xuất công nghiệp, chỉ số giá tiêu dùng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ LÊN GIÁ CHỨNG KHOÁN 1. GIỚI THIỆU Với 12 năm hoạt động từ khi thành lập đến nay, thị trường chứng khoán Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể. Từ lúc ban đầu chỉ có 2 công ty niêm yết trên sàn HOSE thì tính đến cuối quí II năm 2012 thì có 715 công ty đang niêm yết tại 2 sàn.
Thị trường chứng khoán trở thành một trong những kênh huy động vốn ngày càng quan trọng của nền kinh tế, đặc biệt là các công ty niêm yết trên các sàn HOSE, HNX và cả UPCOM. Ngoài ra, thị trường chứng khoán cũng là một công cụ giúp cho các nhà hoạch định chiến lược thực hiện các chính sách kinh tế tài chính, điều tiết nền kinh tế theo đúng định hướng mục tiêu kinh tế của từng thời kì. Mối tương quan giữa nền kinh tế và thị trường vốn ngày càng mật thiết, trong đó các yếu tố vĩ mô được xem là “nút thắt” đối với dòng tiền vào ra thị trường chứng khoán. Trong thực tế năm 2008 cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu ảnh hưởng đến nền kinh tế Việt Nam, lãi suất cho vay tăng lên mức kỷ lục gần 24%, lạm phát (yoy) tháng 6 đạt mức 19.87%, thị trường chứng khoán giảm 65.7% cùng với sự sụt giảm dòng tiền thị trường khi giá trị giao dịch có lúc chỉ đạt hơn 200 tỷ đồng.
Năm 2009, nền kinh tế thế giới phục hồi khi chính phủ các nước thực hiện các gói kích cầu, lượng cung tiền gia tăng giúp thị trường chứng khoán phục hồi 57. Năm 2011, nền kinh tế thế giới trở nên bất ổn với vấn đề nợ công Châu Âu, giá hàng hóa thế giới tăng mạnh, giá vàng đạt đỉnh hơn 1.950 USD/oz, cùng các biện pháp thắt chặt tiền tệ kiềm chế lạm phát, thị trường chứng khoán sụt giảm 27. Tiếp tục những khó khăng do khủng hoảng nợ công ở Châu Âu trong những tháng đầu năm 2012, tuy cả năm kế hoạch đề ra là tăng tín dụng khoảng 15-17%, nhưng thực tế 6 tháng đầu năm không tăng, mà cho đến tháng 5 vẫn còn âm so với cuối năm 2011, lợi nhuận của một số ngân hàng giảm, nhiều chi nhánh ngân hàng báo lỗ. Ở các doanh nghiệp sản xuất thì hàng tồn kho tăng mạnh trong khi đó sức mua giảm sút trên thị trường.
Tất cả những khó khăn đó cũng đã tác động mạnh đến thị trường LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 chứng khoán Việt Nam trong tháng 5, tháng 6 với mức giảm hơn 20% so với đầu năm. Nguồn: Sở giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh và tổng hợp Hình 1.1: Diễn biến thị trường chứng khoán Việt Nam và ảnh hưởng các yếu tố vĩ mô từ năm 2007- nay Từ những quan sát thực tiễn và đã có rất nhiều bài nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng có mối tương quan giữa các biến số vĩ mô và TTCK. Các nghiên cứu của Chen, N.
và cộng sự (1986) ở các nước đã phát triển đã thấy các nhân tố sản lượng công nghiệp, lạm phát, lãi suất, cung tiền có một ý nghĩa quan trọng giải thích giá cổ phiếu. Trong khi đó các nghiên cứu của Menike, L. (2006) ở Sri Lanka đã cho thấy rằng 27/34 công ty được chọn đã có được khả năng giải thích cao ( R 2 lớn hơn 50%) bởi tác động của 4 nhân tố vĩ mô (cung tiền, tỷ giá, lạm phát, lãi suất) lên giá cổ phiếu. và cộng sự (2009); Thaker, M., và cộng sự (2009) đã tìm thấy một mối tương quan mạnh trong biến tỷ giá với giá chứng khoán ở Karachi Stock Exchange Pakistan và Kuala Lumpur Malaysia.
Các nhân tố vĩ mô ở các quốc gia các vùng miền khác nhau sẽ có nhưng ảnh hưởng khác nhau lên thị trường chứng khoán. Vậy liệu ở Việt Nam thì các nhân tố vĩ mô có ảnh hưởng đến giá LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 chứng khoán hay không? Các ảnh hưởng này có mối tương quan có giống như ở các quốc gia đã phát triển và đang phát triển không? Đó là lý do đề tài “ Tác động của các nhân tố lên giá chứng khoán” ra đời nhằm đóng góp thêm những luận cứ mới ở một quốc gia mới nổi như Việt Nam. Đồng thời nó cũng giúp cho các NĐT và nhà phân tích có những nhận định tốt hơn khi có các thay đổi trong chính sách vĩ mô. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU: 3.1 Mục tiêu tổng quát Tìm kiếm minh chứng thực tiễn về sự ảnh hưởng của một số nhân tố vĩ mô (trong nước và ngoài nước) tới CSG VN-index tại Sở Giao Dịch Chứng khoán TP HCM.2 Mục tiêu cụ thể Xác định các nhân tố vĩ mô ảnh hưởng đến CSG VN-index.
Xác định các mối quan hệ nhân quả giữa CSG VN-index với các nhân tố vĩ mô. Phản ứng của CSG VN-index và các nhân tố vĩ mô khi có một cú sốc ảnh hưởng.3 Câu hỏi nghiên cứu : Bài nghiên cứu nhằm mục tiêu tìm kiếm câu trả lời cho 2 câu hỏi chính là: - Có hay không mối tương quan giữa các yếu tố vĩ mô: chỉ tiêu hoạt động kinh tế, chỉ số giá tiêu dùng, cung tiền, giá dầu, tỷ giá, lãi suất, chỉ số MSCI Châu Á Thái Bình Dương và CSG VN-index trên sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh? - Nhân tố CSG VN-index sẽ phản ứng như thế nào trước các cú sốc của 7 nhân tố vĩ mô chỉ tiêu hoạt động kinh tế, chỉ số giá tiêu dùng, cung tiền, giá dầu, tỷ giá, lãi suất, chỉ số MSCI Châu Á Thái Bình Dương? 3.4 Phạm vi nghiên cứu: Luận án nghiên cứu sử dụng chỉ số giá VN-index của Sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh làm đại diện cho giá chứng khoán của toàn bộ công ty niêm yết tại sàn HOSE. Các nhân tố nghiên cứu tác động đến CSG VN-index là các nhân tố vĩ mô: - Trong nước: Chỉ tiêu hoạt động kinh tế: được đo lường thông qua chỉ số sản xuất công nghiệp (đã điều chỉnh lạm phát); Thay đổi chỉ số giá tiêu dùng CPI đại diện cho chỉ số lạm phát; LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 Tăng trưởng cung tiền M2; Thay đổi tỷ giá; Thay đổi trong lãi suất. - Thế giới: Giá dầu thô thế giới; Chỉ số MSCI Châu Á Thái Bình Dương.
- Phạm vi thời gian nghiên cứu từ tháng 12/2006 đến tháng 07/2012.5 Bố cục luận văn: Phần 1: Giới thiệu nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu. Phần 2: - Tổng hợp các nghiên cứu trước về mối tương quan giữa các nhân tố vĩ mô và CSG ở các thị trường khác trên thế giới và Việt Nam nhằm hỗ trợ nền tảng lý thuyết cho nghiên cứu. - Phân tích biến động các nhân tố vĩ mô tác động lên CSG VN-index bằng phương pháp mô phỏng đồ thị. Phần 3: Mô tả dữ liệu được sử dụng và các phương pháp nghiên cứu sẽ được áp dụng.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu. Phần 5: Kết luận nghiên cứu và kiến nghị. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. PHƯƠNG PHÁP LUẬN: 3.
Tác động của các nhân tố vĩ mô lên giá chứng khoán 3. Chỉ số sản xuất công nghiệp IPI và giá chứng khoán : Chỉ số sản xuất công nghiệp đại diện cho hoạt động kinh tế. Lý thuyết cho rằng chỉ số sản xuất công nghiệp gia tăng trong giai đoạn nền kinh tế đang tăng trưởng và chỉ số sản xuất công nghiệp giảm suốt thời gian kinh tế suy thoái, do đó sự thay đổi trong chỉ số sản xuất công nghiệp là dấu hiệu sự thay đổi nền kinh tế. Và các phát hiện của nghiên cứu thực nghiệm của Husainey, K.
và Le Khanh Ngoc (2009) và Tunah, H. (2010) đã chứng minh rằng có một mối quan hệ đồng biến giữa các biến kinh tế thực và giá cả chứng khoán. Chỉ số giá tiêu dùng CPI và giá chứng khoán : Chỉ số giá tiêu dùng CPI được sử dụng như là đại lượng đại diện cho lạm phát. Nhìn về mặt tổng thể thì chúng ta vẫn thấy mối tương quan nghịch giữa giá chứng khoán và chỉ số giá tiêu dùng CPI.
TTCK sẽ hoạt động mạnh dưới hai điều kiện: tăng trưởng kinh tế cao và lạm phát thấp. Nhưng nếu nền kinh tế phát triển mà lạm phát tăng cao thì chưa chắc đã là tốt. Khi mối nguy lạm phát tăng cao, các nhà phân tích đầu tư sẽ nghi ngờ về sự thịnh vượng của nền kinh tế hay các báo cáo tăng trưởng việc làm. Lý do là họ lo sợ rằng dường như đang có một sự bùng nổ lạm phát, một sự phát triển giả tạo đã được tạo nên bởi việc dễ dãi trong tín dụng của chính quyền, do chính phủ chấp nhận một mức thâm hụt ngân sách cao hơn và mở rộng cung tiền.
Mối quan hệ thực sự của lạm phát và giá cổ phiếu luôn là một câu hỏi thực nghiệm hóc búa và mối quan hệ này sẽ thay đổi theo thời gian và đặc điểm của các quốc gia trong các giai đoạn này.