MỞ ĐẦU Lý do chọn đề tài Những nghiên cứu tại các nền kinh tế phát triển cũng như đang phát triển như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan, Philippines, Singapore, Ghana, Malaysia, Sri Lanka, Thổ Nhĩ Kỳ,… cho thấy rằng các chỉ số kinh tế vĩ mô như tỷ lệ lạm phát, lãi suất, tỷ giá,…ảnh hưởng đến TTCK. Thực tế trong giai đoạn 2006-2012, TTCK Việt Nam đã chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ những vấn đề nóng như lạm phát, lãi suất tăng cao, nợ xấu ngân hàng, chính sách thắt chặt tín dụng vào lĩnh vực chứng khoán, bất động sản, tín dụng đen vỡ nợ, thị trường bất động sản trầm lắng ….cùng với xu thế ảm đạm của TTCK thế giới do ảnh hưởng của khủng hoảng nợ công khu vực Châu Âu, suy thoái kinh tế Mỹ,… Bằng việc kiểm định trong thực tế qua các mô hình kinh tế lượng giúp cho ta có cái nhìn tổng quát hơn về rủi ro và biến động của thị trường chứng khoán Việt Nam khi các biến số kinh tế vĩ mô thay đổi, lập ra các dự báo cũng như phòng ngừa cho hoạt động đầu tư. Mục tiêu nghiên cứu: Bài nghiên cứu này nhằm mục tiêu kiểm định tại Việt Nam có tồn tại mối tương quan trong ngắn hạn và dài hạn giữa các biến kinh tế vĩ mô và thị trường chứng khoán Việt Nam hay không? Phân tích mức độ ảnh hưởng của các biến kinh tế vĩ mô đến TTCK Việt Nam khi xảy ra cú sốc trong hệ thống Đối tƣợng nghiên cứu: Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, đối tượng nghiên cứu của luận văn bao gồm: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 Chỉ số giá chứng khoán của Việt Nam VN-INDEX Tỷ giá song phương USD/VND Chỉ số giá tiêu dùng của Việt Nam (CPI) Sản lượng công nghiệp của Việt Nam (IP) Cung tiền mở rộng của Việt Nam (M2) Lãi suất huy động 03 tháng của Việt Nam (IR) Câu hỏi nghiên cứu Có hay không mối tương quan trong ngắn hạn/dài hạn giữa các biến kinh tế vĩ mô như chỉ số giá tiêu dùng, cung tiền, giá dầu, tỷ giá, lãi suất đến TTCK Việt Nam Các biến kinh tế vĩ mô sẽ tác động đến thị trường chứng khoán như thế nào khi xảy ta cú sốc trong hệ thống. Phạm vi nghiên cứu: Trong luận văn, tác giả đã sử dụng số liệu thống kê về cung tiền (M2), chỉ số giá tiêu dùng (CPI), tỷ giá USD/VND (EXC), chỉ số sản xuất công nghiệp (IPI), lãi suất của Việt Nam (IR) trong khoảng thời gian từ tháng 01/2006 đến tháng 07/2012.
Nguồn dữ liệu: Tổng cục thống kê Việt Nam (GSO), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Phƣơng pháp nghiên cứu: Phương pháp thống kê và phân tích so sánh: dựa trên số liệu thu thập được, thống kê và dùng đồ thị để phân tích đánh giá các biến. Phương pháp phân tích kinh tế lượng: sử dụng kiểm định nhân quả Granger để xem xét mối quan hệ nhân quả giữa thị trường chứng khoán và các biến kinh tế vĩ mô; sử dụng mô hình VAR để xem xét mối quan hệ trong ngắn hạn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 giữa các biến với nhau, sử dụng đồng liên kết Johansen-Juselius để xác định mối quan hệ cân bằng trong dài hạn. Cấu trúc của luận văn Phần 1: Giới thiệu Phần 2: Các nghiên cứu trước Phần 3.
Phương pháp nghiên cứu Phần 4. Kết quả nghiên cứu. Kiến nghị Những đóng góp của luận văn Thông qua việc kiểm định các số liệu thu thập được, đưa ra những con số tương đối về tác động của các biến kinh tế vĩ mô đến TTCK Việt Nam, lập ra các dự báo để phòng ngừa rủi ro cho hoạt động đầu tư trên TTCK. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
GIỚI THIỆU Khủng hoảng tài chính toàn cầu nổ ra năm 2008 đã có tác động mạnh tới kinh tế, tài chính và thương mại thế giới. Trong năm 2009, để khắc phục đợt suy thoái kinh tế, hầu hết các nước đã áp dụng chính sách kích thích kinh tế, nới lỏng tiền tệ. Năm 2011, tình hình thế giới vẫn diễn biến phức tạp, sự phục hồi kinh tế toàn cầu diễn ra chậm chạp, nguy cơ tái khủng hoảng tài chính - kinh tế vẫn tiềm ẩn, tăng trưởng toàn cầu chỉ đạt 4%… đã đặt ra cho cộng đồng quốc tế những nguy cơ, thách thức. Vấn đề nợ công tại một số quốc gia châu Âu như Hy Lạp, Tây Ban Nha đang là nhân tố gây ra những bất ổn tài chính cho khu vực châu Âu cũng như toàn cầu; thương mại toàn cầu mất cân đối tạo ra những rủi ro tiềm ẩn trong cân bằng tỷ giá hối đoái giữa các nền kinh tế lớn, đặc biệt là Mỹ và Trung Quốc; tình trạng thất nghiệp tại nhiều nước phát triển như Mỹ và khu vực châu Âu khiến cho đà phục hồi kinh tế thế giới trở nên chậm chạp; thâm hụt ngân sách và nợ công, lạm phát tăng cao tại nhiều nước đang phát triển cũng như một số nước phát triển; thêm vào đó một loạt các vấn đề khác xảy ra gần đây như giá lương thực, thực phẩm, giá dầu thế giới tăng cao, bất ổn tại khu vực Trung Đông – Bắc Phi, thảm họa động đất, sóng thần tại Nhật Bản… đã khiến cho kinh tế thế giới đã khó khăn lại càng khó khăn hơn.
Kinh tế toàn cầu suy thoái đã ảnh hưởng nặng nề đến kinh tế Việt Nam làm trầm trọng thêm các yếu kém nội tại của nền kinh tế. Tăng trưởng kinh tế chậm lại trong 3 năm 2009, 2010, 2011, lần lượt là 5,3%, 6,7% và 5,89%. Trong năm 2011, lạm phát tăng 18,58% so với năm 2010, hoạt động sản xuất kinh doanh của các DN, đặc biệt là DN nhỏ và vừa gặp nhiều khó khăn khi Chính phủ thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ và tài khóa. Tăng trưởng tín dụng năm 2011 đạt 12%, trong khi tổng phương tiện thanh toán cũng chỉ tăng 10%.
Nhằm hạn chế tăng trưởng tín dụng ngoại tệ, tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng ngoại tệ của các tổ chức tín dụng trong năm 2011 liên tục được điều chỉnh tăng, từ mức 4% hồi đầu năm lên mức 7% từ tháng 6 và 8% từ tháng 8 đối với tiền gửi có kỳ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 hạn dưới 12 tháng. Đối với tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng, tỷ lệ dự trữ bắt buộc cũng lần lượt được điều chỉnh tăng lên mức 4% từ tháng 5 và 6% từ tháng 9 cho đến cuối năm 2011. Sang năm 2012, nền kinh tế cũng gặp nhiều khó khăn khi tốc độ tăng trưởng GDP thấp, các ngành sản xuất bị đình đốn trong khi sức cầu yếu đi do áp lực lãi suất huy động và cho vay cao và ảnh hưởng của các biện pháp thắt chặt tài khóa và tiền tệ được thực hiện từ đầu năm 2011. Sau khi hình thành và đi vào hoạt động, TTCK Việt Nam đã có những đóng góp nhất định cho nền kinh tế.
Tuy nhiên sau giai đoạn tăng trưởng nóng, thị trường liên tục sụt giảm. Những thông tin tiêu cực về kinh tế vĩ mô đã tác động không nhỏ đến sự suy giảm của thị trường. Vậy giữa các biến kinh tế vĩ mô và TTCK Việt Nam có thực sự tồn tại mối tương quan hay không? Thực tế, 13 năm hình thành và phát triển của TTCK Việt Nam cho thấy tác động của các biến kinh tế vĩ mô đến thị trường ngày càng rõ nét. Giai đoạn 2006-2007, VN-Index tăng hơn 280% kể từ đầu năm 2006 đến khi đạt đỉnh vào tháng 3/2007, trong thời gian này lạm phát được duy trì mức thấp, tăng 6.6% vào cuối năm 2006, thấp hơn so với mức tăng 8.5% trong năm 2004, lãi suất duy trì mức 8%/ năm và tỷ giá ít biến động, dòng vốn đầu tư nước ngoài gia tăng mạnh sau khi Việt Nam gia nhập WTO.
Năm 2008 VN-Index sụt giảm hơn 70% khi kinh tế thế giới rơi vào khủng hoảng, lạm phát đạt 28.32%, lãi suất cho vay hơn 24%, FII vào TTCK giảm mạnh. Năm 2009, với gói kích cầu hỗ trợ lãi suất 4% trong giai đoạn 1 và 30% thuế thu nhập doanh nghiệp và 50% thuế VAT ở một số lĩnh vực đặc biệt; tăng trưởng cung tiền M2 đạt 28.4%, lạm phát được kiềm chế khi chỉ tăng 6.52% so với cùng kỳ 2008, đã giúp TTCK có mức tăng trưởng trở lại. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Giai đoạn 2010- 2011, TTCK sụt giảm hơn 40% trong năm 2011, do những ảnh hưởng của khủng hoảng nợ công Châu Âu, VND giảm giá hơn 9% so với USD, lạm phát tăng trở lại trong năm 2011, các ngân hàng nhỏ gặp khó khăn trong thanh khoản đẩy lãi suất huy động có lúc lên 18%, lãi suất cho vay hơn 25%. Năm 2011 là năm bán ròng mạnh mẽ trên TTCK của các tổ chức và nhà đầ u tư cá nhân do có quá nhi ều thông tin xấu.
Trong cả năm, thị trường chỉ có hai đợt hồi phục ngắn vào cuối tháng 5 và khoảng giữa tháng 8, khoảng thời gian còn ̣ lại thị trường chủ yếu đi xuống. Bước sang năm 2012, kinh tế vĩ mô tuy vẫn đối mặt với nhiều khó khăn nhưng cũng đã cho thấy những dấu hiệu chuyển biến tích cực, đặc biệt là việc kiềm chế lạm phát. TTCK lập tức phản ánh những kỳ vọng lạc quan của nền kinh tế thông qua hoạt động giao dịch. TTCK trong nửa đầ u năm 2012 có dấu hiệu hồi phục.
Bên cạnh đó, kể từ sau năm 1986, mối quan hệ giữa các biến số kinh tế vĩ mô và giá cổ phiếu được nghiên cứu rộng rãi, và có nhiều nghiên cứu hàn lâm chứng minh rằng giá cổ phiếu không những bị ảnh hưởng bởi các nhân tố nội sinh bên trong doanh nghiệp như dòng tiền kỳ vọng, tỷ suất sinh lợi yêu cầu mà còn bị tác động bởi các nhân tố vĩ mô. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu này được thực hiện ở các nước phát triển và còn hạn chế ở nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng. Một số nghiên cứu ở các nước phát triển bao gồm Fama (1981, 1990), Chen at al (1986), Hamao (1988), Asprem (1989), Chen (1991), Thornton (1993), Kaneko and Lee (1995), Cheung and Ng (1998), Darrat and Dịckens (1999). Các nghiên cứu này chỉ ra rằng các nhân tố như IP, lạm phát, tỷ giá, lãi suất, cung tiền, độ dốc của đường cong lãi suất,… đóng vai trò quan trọng trong việc giải thích lợi nhuận của cổ phiếu.
Nghiên cứu ở các thị trường đang phát triển bắt đầu xuất hiện trong những thập niên gần đây.