Chương 1. Giới thiệu nghiên cứu 1. Bối cảnh nghiên cứu và sự cần thiết của nghiên cứu 1. Bối cảnh quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc và khu vực Đông Nam Á Trong thập kỷ vừa qua, Trung Quốc đã nổi lên như một đối tác quan trọng của Đông Nam Á (SEA) về thương mại và đầu tư.
Các nền kinh tế Đông Nam Á được hưởng lợi đáng kể từ sự tăng trưởng mạnh mẽ của Trung Quốc, giá cả hàng hóa cao và mạng lưới sản xuất khu vực ngày càng mở rộng do nhu cầu mạnh mẽ từ Trung Quốc (Ah, 2017)1. Trung Quốc trở thành đối tác thương mại quan trọng nhất của Đông Nam Á vào năm 2009, sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu, thương mại song phương đạt 395 tỷ đô la vào năm 2015, chiếm 15% thương mại bên ngoài của Đông Nam Á. Giai đoạn 2000 – 2015, quan hệ thương mại Đông Nam Á – Trung Quốc không ngừng tăng, trong khi thương mại Đông Nam Á và các đối tác truyền thống như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản giảm đều. Từ khi khu vực thương mại tự do Asean – Trung Quốc (ACFTA) có hiệu lực (2011), thâm hụt thương mại của các nước Đông Nam Á với Trung Quốc có xu hướng gia tăng.
Đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc ở Đông Nam Á là Việt Nam. Singapore là đối tác lớn thứ hai với vai trò là trung tâm vận chuyển và tái xuất hàng hóa trong khu vực. Nhóm 06 nước gồm Việt Nam, Singapore, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines chiếm 94% sản lượng thương mại giữa Trung Quốc và toàn khu vực Đông Nam Á (ĐNA). Đầu tư FDI của Trung Quốc vào Đông Nam Á khởi đầu ở mức thấp và tăng nhanh.
Dòng vốn FDI có sự thay đổi vượt bậc trong giai đoạn 2010 – 2012, đạt 6,4 tỷ đô la vào năm 2015. Trung Quốc là nhà đầu tư lớn thứ tư ở Đông Nam Á sau EU, Nhật Bản và Hoa Kỳ. FDI của Trung Quốc vào Đông Nam Á năm 2015 chiếm 6,9% bằng gần một nửa FDI của Nhật Bản. Đặc biệt, vốn FDI từ Trung Quốc vào Đông Nam Á tăng mạnh sau khủng hoảng tài chính toàn cầu nhưng đã giảm xuống ở hầu 1 Một số biểu đồ mô tả quan hệ kinh tế Trung Quốc – Đông Nam Á giai đoạn 2000 – 2015 được kèm theo ở Phụ lục 01 của luận án này.
luan an 6 hết các nước kể từ 2013, trừ Việt Nam. Tốc độ tăng trưởng FDI của Trung Quốc tại Đông Nam Á là cao hơn các quốc gia còn lại. Tầm quan trọng của FDI Trung Quốc khác nhau đáng kể giữa các quốc gia và phụ thuộc ở mức độ phát triển kinh tế của quốc gia đó. Singapore là điểm đến hàng đầu của FDI Trung Quốc.
Phân bổ FDI của Trung Quốc lớn thứ hai và ba ở Indonesia và Lào, thấp nhất ở Philippines. Nhóm sáu nước có quan hệ đầu tư lớn nhất với Trung Quốc gồm Singapore, Indonesia, Thái Lan, Malaysia, Việt Nam và Philippines chiếm 85% thị phần FDI của Trung Quốc ở Đông Nam Á. Hoạt động mua bán & sát nhập của Trung Quốc ở Đông Nam Á tập trung nhiều vào ba quốc gia Singapore, Malaysia và Indonesia. Trong năm 2010 – 2016, phần lớn các thương vụ M&A diễn ra trong lĩnh vực năng lượng (35%), sản xuất (16%) và bất động sản (13%).
Như vậy, trong thập kỷ vừa qua nổi lên mối quan hệ phụ thuộc tương đối của các nước ĐNÁ vào nền kinh tế Trung Quốc. Các quốc gia Đông Nam Á đóng vai trò là nước nhập khẩu, hấp thụ vốn đầu tư từ Trung Quốc. Thông qua đó, Trung Quốc ngày càng gia tăng ảnh hưởng lên các nền kinh tế nhỏ thuộc khu vực này. Nhóm các nước có quan hệ đối tác sâu sắc với Trung Quốc gồm: Việt Nam là nước có tỷ trọng thương mại lớn nhất trong khu vực, Singapore là điểm đến hàng đầu của FDI Trung Quốc.
Nhóm sáu nước Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam chiếm 94% giao dịch thương mại và 85% đầu tư FDI là nhóm quốc gia chủ lực trong quan hệ đối tác của Trung Quốc ở Đông Nam Á. Trong bối cảnh đó, tác giả luận án lựa chọn sáu nước Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam là nhóm quốc gia đại diện để nghiên cứu về mối quan hệ ảnh hưởng của Trung Quốc tới khu vực ĐNA nói chung. Sự cần thiết của nghiên cứu Sau khủng hoảng tài chính toàn cầu, sự bất định nói chung và bất định chính sách kinh tế (BĐCSKT) nói riêng trở thành mối quan tâm của cả giới báo chí, học giả và các nhà làm chính sách. Điển hình như Julio & Yook (2012) đã ghi nhận kết quả luan an 7 chu kỳ đầu tư của công ty bị ảnh hưởng bởi các cuộc bầu cử trên toàn thế giới.
Sau đó là Gulen & Ion (2013) nghiên cứu với các công ty ở Hoa Kỳ hay Wang & cộng sự (2014) nghiên cứu với các công ty ở Trung Quốc cũng đều ghi nhận bằng chứng tác động ngược chiều của BĐCSKT lên đầu tư công ty. Farooq & Ahmed (2019) ghi nhận chính sách cổ tức của các công ty Hoa Kỳ rất nhạy cảm với các cuộc bầu cử Tổng thống, công ty trả cổ tức cao hơn trong những năm có bầu cử so với những năm không có bầu cử. Hay ngược lại, Liu, Lee, & Zhang (2018) khi nghiên cứu với các công ty ở Trung Quốc lại kết luận gia tăng BĐCSKT và suy thoái kinh tế dẫn đến giảm phân phối cổ tức. Demir & Ersan (2017) cung cấp bằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng khiến công ty gia tăng nắm giữ tiền mặt khi đối diện với BĐCSKT.
Theo báo cáo quốc gia của Quỹ tiền tệ quốc tế (IFM, 2017), bất định là yếu tố chính dẫn đến sự suy yếu của nền kinh tế toàn cầu. Chỉ số đo lường mức độ bất định của chính sách kinh tế toàn cầu (WUI) tăng đột biến gần vụ tấn công 11/9, dịch Sars, chiến tranh vùng vịnh II, khủng hoảng nợ Châu Âu, trưng cầu dân ý Brexit của nước Anh và bầu cử Tổng thống Hoa Kỳ (Ahir & cộng sự, 2018). Ahir & cộng sự (2018) cũng ghi nhận mức độ bất định có xu hướng tương đồng hơn ở các nền kinh tế tiên tiến, có mối liên kết thương mại và tài chính chặt chẽ, nhưng cũng có sự khác nhau giữa các quốc gia trung bình có nền kinh tế nhỏ hơn thuộc phần còn lại của thế giới. Chính sách kinh tế Trung Quốc thu hút được sự quan tâm hiện nay không chỉ bởi thành tựu đã đưa nền kinh tế Trung Quốc trở thành cường quốc thứ hai chỉ sau Hoa Kỳ mà còn bởi những bất ổn tiềm tàng đằng sau sự tăng trưởng quá nóng (Ah, 2017).
Đông Nam Á - một khu vực nằm ở phía Nam - có quan hệ thương mại và đầu tư mật thiết với nền kinh tế Trung Quốc được đánh giá là đã hưởng lợi đáng kể từ sự trỗi dậy của Trung Quốc thời gian qua (Ah, 2017) thu hút sự quan tâm của luận án ở một khía cạnh khác. Liệu rằng BĐCSKT của Trung Quốc gia tăng có làm suy giảm đầu tư chung của toàn khu vực hay là dấu hiệu cảnh báo dịch chuyển đầu tư từ Trung Quốc sang các quốc gia láng giềng? Hay nói cách khác, trong bối cảnh luan an 8 BĐCSKT gia tăng, liệu rằng Đông Nam Á có chịu chung tác động làm suy giảm đầu tư như là một khối liên minh thương mại với Trung Quốc hay được hưởng lợi từ cuộc dịch chuyển đầu tư khỏi Trung Quốc của các tập đoàn lớn. Trên Nikkei Asian Review số ra ngày 18/07/2019, Masamichi Hoshi và các cộng sự cung cấp các bằng chứng chỉ ra rằng trong bối cảnh chiến tranh thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc leo thang, BĐCSKT của Trung Quốc có thể sẽ khiến các hãng sản xuất máy tính cá nhân phải chuyển tới 30% sản lượng máy tính xách tay của họ ở Trung Quốc sang Đông Nam Á, và trên 50 công ty đã có kế hoạch chi tiết rút khỏi Trung Quốc do chiến tranh thương mại (bao gồm cả Apple, Nintendo, Samsung,…) Đây là dấu hiệu làn sóng đầu tư từ Hoa Kỳ, Nhật Bản, EU,… sẽ dịch chuyển từ Trung Quốc sang các nước Đông Nam Á. Tuy nhiên, ở một khía cạnh khác, nếu nhìn nhận Đông Nam Á là đối tác thương mại, đầu tư toàn diện của Trung Quốc, thì liệu rằng họ có thoát khỏi sự tác động của gia tăng BĐCSKT Trung Quốc lên đầu tư của toàn khu vực? Về mặt thực nghiệm, nhiều học giả gần đây đã ghi nhận bằng chứng chỉ ra ảnh hưởng ngày càng lớn của nền kinh tế Trung Quốc lên phần còn lại của thế giới nói chung và Châu Á nói riêng.
Thí dụ như, Zhang & cộng sự (2019) đã sử dụng BĐCSKT của Trung Quốc và Hoa Kỳ để xem xét ảnh hưởng của Trung Quốc và Hoa Kỳ trên một số thị trường quan trọng như thị trường chứng khoán (TTCK), tín dụng, năng lượng và hàng hóa. Bằng cách sử dụng mô hình chuỗi thời gian, tác giả kết luận mặc dù Hoa Kỳ vẫn giữ vị trí thống trị nhưng Trung Quốc đã trở nên có ảnh hưởng hơn với phần còn lại của thế giới. Kết quả cũng cho thấy những lo ngại về sự cạnh tranh của Trung Quốc với Hoa Kỳ trong việc phân định trật tự thế giới có nhiều khả năng bị chi phối bởi các yếu tố chính trị hơn kinh tế. Hay Ahmed & Huo (2019) nghiên cứu sự lan tỏa của cú sốc sụp đổ TTCK Trung Quốc 2015 – 2016 và tìm thấy bằng chứng rằng những thông tin tốt lành hay các cú sốc từ Trung Quốc đều gây ra tác động lan tỏa đến TTCK các nước Châu Á – Thái Bình Dương.
Cụ thể, sự lan tỏa về giá cả từ TTCK Trung Quốc sang các thị trường khu vực khác là cao hơn trong giai đoạn tăng giá và hầu hết các TTCK Châu Á – Thái Bình luan an 9 Dương đều bị ảnh hưởng đáng kể bởi những thay đổi về giá chứng khoán nội địa của Trung Quốc. Tác giả kết luận rằng, TTCK Châu Á – Thái Bình Dương phản ứng với những cú sốc đến từ Trung Quốc trong khủng hoảng 2015 – 2016 cho thấy tầm quan trọng của Trung Quốc như một trung tâm tài chính chiến lược trong khu vực này.