ĐẶT VẤN ĐỀ Chúng ta vẫn nói rừng là vàng nhưng thực tế rừng đã đem lại cho chúng ta những lợi ích gì? Trên thế giới cũng như Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu và công nhận giá trị to lớn của rừng. Song một nghịch lý là một bộ phận không nhỏ người dân sống phụ thuộc vào rừng vẫn đang trong tình trạng đói nghèo! Làm thế nào để phát triển tài nguyên rừng, để rừng thật sự là "rừng vàng" đã và đang là vấn đề cần quan tâm của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, trong đó có liên quan đến nhiều chủ trương, chính sách của nhà nước. Giao đất lâm nghiệp được coi là một trong những chính sách đúng đắn góp phần nâng cao ý thức cũng như tính tự chủ của người dân trong việc quản lý, phát triển tài nguyên rừng; phát triển kinh tế xã hội nâng cao đời sống nhân dân vùng ven rừng và trong rừng. Trong những năm qua cùng với việc triển khai hàng loạt các chương trình trồng rừng quy mô lớn 661, 327…chính sách giao đất lâm nghiệp cũng được đẩy mạnh trên toàn quốc, từ trung ương đến cơ sở, nó đã và đang phát huy được tác dụng trong phát triển kinh tế xã hội nói chung, kinh tế HGĐ làm rừng nói riêng.
Công tác GĐGR được tiến hành đồng thời từ việc giao đất trống đồi núi trọc, giao rừng tự nhiên nghèo, giao rừng trồng, rừng đặc sản như quế, hồi, thông… Đến nay theo số liệu thống kê của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường (30/9/2007) đã có 8.898 ha đất lâm nghiệp đã được giao cho 1.451 tổ chức, HGĐ và cá nhân.821 ha đất lâm nghiệp đã được giao và cấp giấy chứng nhận cho 1.258 hộ gia đình, cá nhân, với diện tích trung bình là 2,87 ha/hộ gia đình. Như vậy đến nay đã có khoảng 62% tổng diện tích đất lâm nghiệp được giao, nếu xét về tiến độ GĐGR thì đây không còn là vấn đề cấp bách. Vấn đề ở chỗ người dân đã làm gì trên đất được giao? Hay xét ở khía cạnh lớn hơn chính sách này đã ảnh hưởng đến cuộc sống cộng đồng, đến tài nguyên rừng như thế nào? Tích cực hay tiêu cực, mức độ tác động mạnh hay yếu? Nó đã thực sự phát huy hết mục tiêu đề ra hay chưa… đó vẫn còn là những câu hỏi! -2- Những nghiên cứu tổng kết cho thấy bên cạnh những kết quả đạt được: Nâng độ che phủ lên 43%; tổng trữ lượng gỗ là 813,3 triệu m3 và khoảng 8,5 tỉ cây tre, nứa; tổng diện tích lâm sản ngoài gỗ được gây trồng là 379.000 ha, chủ yếu tập trung ở 3 vùng Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên và Đông Bắc [2]… không thể không kể đến những hạn chế của chương trình này. Theo nhóm nghiên cứu Trường Đại học Lâm nghiệp trong "Lâm nghiệp giảm nghèo và sinh kế nông thôn ở Việt Nam" đã đưa ra kết luận giao đất lâm nghiệp chưa giúp được người nghèo thoát nghèo! Vậy đâu là thực tế của vấn đề? Phải chăng những diện tích rừng được giao chỉ mới phát huy tác dụng của nó trong các vùng kinh tế phát triển, trình độ dân trí cao, những vùng kinh doanh rừng thuận lợi? Cộng đồng vùng sâu vùng xa vẫn đang trong vòng quay luẩn quẩn của đói nghèo, vẫn khó khăn mặc dù đã làm chủ những diện tích rừng lớn? Làm thế nào để rừng phát huy được tác dụng của nó; góp phần xoá đói giảm nghèo cho cộng đồng sống gần rừng và trong rừng; đặc biệt những cộng đồng vùng sâu, vùng xa trình độ dân trí thấp.
Muốn làm được điều đó phải đánh giá được hiện trạng GĐGR, hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp được giao tại các khu vực này, đánh giá được hiệu quả cũng như ảnh hưởng của chương trình GĐGR đến đời sống người dân nói chung đến sinh kế nói riêng. Qua đó tìm ra được những điểm mạnh, những điểm còn hạn chế làm cơ sở đề xuất các hướng khắc phục đúng đắn nhằm nâng cao hiệu quả của chương trình theo đúng ý nghĩa của nó. Là một huyện vùng sâu vùng xa của tỉnh Thừa Thiên Huế, có tỉ lệ đất có rừng tương đối lớn, trong những năm qua Nam Đông cũng đã tích cực tiến hành chính sách giao đất lâm nghiệp cho cộng đồng, HGĐ, cá nhân… quản lý. Song trong quá trình thực hiện GĐGR, quản lý và sử dụng rừng được giao đã gặp nhiều khó khăn, hiện tại đời sống của người dân một số nơi đã được giao đất chưa được cải thiện hoặc cải thiện rất ít.
Phải chăng chương trình này chưa phù hợp hay chưa phát huy được thế mạnh của nó trên vùng đất này? Xuất phát từ tính cấp thiết của vấn đề tôi tiến hành luận văn "Đánh giá tác động của chính sách giao đất giao rừng tới sinh kế người dân tại xã Thượng Quảng - huyện Nam Đông - tỉnh Thừa Thiên Huế". -3- CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Lý thuyết về sinh kế của người dân 2.1 Khái niệm sinh kế - Theo DFID 2001: Sinh kế có thể mô tả như tổng hợp của nguồn lực và năng lực liên quan tới các quyết định và hoạt động của một người nhằm cố gắng kiếm sống và đạt được các mục tiêu và mơ ước của mình. - Sinh kế của một HGĐ, hay một cộng đồng còn được gọi là kế sinh nhai hay phương kế kiếm sống của HGĐ hay cộng đồng đó. Ý tưởng về sinh kế được định nghĩa bởi Robert Chambers vào những năm 80, sau đó được phát triển hơn nữa bởi Chamber và Conway [30] vào đầu những năm 1990.
Từ đó một số cơ quan phát triển đã tiếp nhận khái niệm sinh kế và cố gắng đưa vào thực hiện. Theo tác giả một sinh kế gồm có: Những khả năng, những tài sản (bao gồm cả nguồn tài nguyên vật chất và xã hội) và những hoạt động cần thiết để kiếm sống. Một sinh kế được xem là bền vững khi nó có thể đối phó và khôi phục trước tác động của những áp lực và những cú sốc, và duy trì hoặc tăng cường những năng lực lẫn tài sản của nó trong hiện tại và tương lai, trong khi không làm suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên. - Chiến lược sinh kế là quá trình ra quyết định về các vấn đề cấp hộ, bao gồm những vấn đề như thành phần hộ, tính gắn bó giữa các thành viên, phân bố các nguồn lực vật chất và phi vật chất của hộ [33].
Để duy trì cuộc sống HGĐ thường có các chiến lược sinh kế khác nhau. Theo Seppala chiến lược sinh kế có thể chia làm 3 loại: Chiến lược tích luỹ: Là chiến lược dài hạn nhằm hướng tới tăng trưởng và có thể là kết hợp của nhiều hoạt động hướng tới tích luỹ của cải và giàu có. Chiến lược tái sản xuất: Là chiến lược trung hạn gồm nhiều hoạt động tạo thu nhập, những ưu tiên có thể nhắm tới hoạt động cộng đồng và an ninh xã hội. Chiến lược tồn tại: Là chiến lược ngắn hạn, gồm cả các hoạt động tạo thu nhập chỉ để tồn tại mà không có tích luỹ.
Tóm lại sinh kế của HGĐ, cộng đồng là kế sinh nhai hay phương kế kiếm sống của HGĐ, cộng đồng đó nó bao gồm các nguồn lực và năng lực liên quan đến khả năng kiếm sống và đạt được những mơ ước của họ.2 Quan điểm sinh kế bền vững - Sinh kế bền vững có thể được tạo lập khi đảm bảo các yêu cầu sau: + Chống đỡ được với những cú sốc và áp lực bên ngoài + Không phụ thuộc vào các hỗ trợ từ bên ngoài (hoặc được hỗ trợ bằng cách thức bền vững về kinh tế và thể chế). + Được thích nghi hoá để duy trì sức sản xuất lâu dài của nguồn tài nguyên thiên nhiên. + Bền vững mà không làm suy yếu và ảnh hưởng tới các giải pháp sinh kế của những người khác [33]. Khung sinh kế bền vững được mô tả vắn tắt trên sơ đồ hình 2.
Tài sản sinh kế Quá trình thay đổi thể chế Thu nhập sinh Các tổn H kế thương Cấu trúc - Tăng thu - Cú sốc S N - Cấp của chính nhanh - Xu thế phủ Chiến - Sức khoẻ tăng - Mùa vụ P F - Khu vực -Luật lược sinh - Giảm các tổn Tư -Chính sách kế thương nhân - Văn hoá - Cải thiện an - Thể chế ninh lương thực Chú giải F: Vốn tài chính H: Vốn con người S: Vốn xã hội N: Vốn tự nhiên P: Vốn vật chất.1: Khung sinh kế bền vững [32] - Để đạt tới mức độ bền vững rõ ràng là một cộng đồng, một HGĐ, hoặc một cá nhân cần có một số tài sản được khái niệm hoá là "năm loại vốn cần có để đạt được sinh kế bền vững" FAO 2001 [33] + Vốn thiên nhiên: Tài nguyên thiên nhiên như đất đai, rừng, nước và đồng cỏ. + Vốn nhân lực: Sức khoẻ, mức độ dinh dưỡng, kỹ năng và trình độ học vấn. + Vốn xã hội: Quan hệ họ hàng, bạn bè, xã hội kể cả các mối quan hệ với các cơ quan tổ chức chính thức mà một người có thể dựa vào đó để mở rộng các giải pháp sinh kế. + Vốn tài chính: Tiền mặt như thu nhập hay tiền tiết kiệm có thể sử dụng làm vốn luân chuyển.
-5- + Vốn cơ sở vật chất: Được xếp vào 3 nhóm là tài sản tư nhân như gia súc và công cụ canh tác, tài sản công cộng như đường xá, cơ sở hạ tầng xã hội như trường học và bệnh viện.2 Ở trong nước - Theo từ điển tiếng Việt: Sinh kế chính là cách làm ăn để mưu sự sống. - Theo Bùi Đình Toái: Khái niệm về sinh kế có thể miêu tả như là một tập hợp của các nguồn lực và khả năng của con người có thể kết hợp được với những quyết định và những hoạt động mà họ sẽ thực hiện để không những kiếm sống mà còn đạt đến mục tiêu và ước nguyện (tham vọng của họ) [25] - Sinh kế còn có thể được mô tả như tổng hợp của các nguồn lực liên quan tới các quyết định và hoạt động của một người nhằm cố gắng kiếm sống và đạt được các mục tiêu và mơ ước của mình [29]. Tiêu chí sinh kế bền vững gồm: an toàn lương thực, cải thiện điều kiện môi trường cộng đồng-xã hội, cải thiện điều kiện vật chất, được bảo vệ tránh rủi ro và các thay đổi đột ngột. - Theo Đinh Đức Thuận một sinh kế được gọi là bền vững thì một HGĐ hay một cá nhân cần phải có một số tài sản hay vốn nhất định.