MỞ ĐẦU Giới thiệu lý do cần thiết để thực hiện đề tài, đồng thời đề ra những mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu cần thực hiện để đạt được để giải quyết tính cấp thiết của đề tài. CHƯƠNG 2 – TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH ĐẤT ĐAI VÀ LÝ THUYẾT HIỆU QUẢ Đưa ra các khái niệm, nghiên cứu trước và kinh nghiệm các nước để từ đó hình thành nên ý tưởng, mô hình nghiên cứu của đề tài. CHƯƠNG 3 – THIÊT KẾ NGHIÊN CỨU Dựa trên các nghiên cứu trước, các nghiên cứu thực nghiệm để có những cơ sở hình thành mô hình nghiên cứu thực nghiệm tại khu vực nghiên cứu. CHƯƠNG 4 – KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Từ mô hình nghiên cứu, sử dụng các phương pháp nghiên cứu định lượng, định tính phân tích để đưa ra kết quả nghiên cứu thực nghiệm trên bộ số liệu thu được.
CHƯƠNG 5 – KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH Kết quả mô hình sẽ đưa ra những yếu tố tác động cụ thể, hiệu quả sử dụng để từ đó đánh giá và khuyến nghị những chính sách quản lý. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -5- CHƯƠNG 2 – TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH ĐẤT ĐAI VÀ LÝ THUYẾT HIỆU QUẢ 2. Lịch sử hình thành chính sách đất đai và hạn điền Chính sách đất đai của ĐBSCL qua thời gian có nhiều thay đổi cùng nhiều yếu tố tác động văn hóa tác đến. Trước năm 1975, đất đai được chính quyền miền Nam quản lý theo hướng thị trường trong khi tại miền Bắc đất đai được xác định sở hữu toàn dân và quản lý theo kiểu XHCN.
Sau khi thống nhất đất nước 1975, chính sách đất đai của miền Bắc được áp dụng trên toàn quốc với sự kiểm soát toàn diện. Cho đến đầu những năm 1980, chính sách đất đai bắt đầu có sự thay đổi theo hướng thị trường. Ngoài ra, quá trình phân chia ruộng đất trong mỗi gia đình còn tác động đến phân mảnh trên diện tích đất canh tác. Quá trình đó có thể tóm lược như sau: 2.
Trước 1975 Trước 1975, cải cách chính sách ruộng đất có sự khác biệt giữa hai miền. Miền Bắc thực hiện cải cách ruộng đất vào những năm 1953 – 1956 nhằm xóa bỏ các hình thức sở hữu phong kiến, tiêu diệt các thành phần chống đối chính phủ. Cải cách này nhằm mang lại công bằng cho xã hội, làm cho “người cày có ruộng” theo các nước trong khối XHCN. Trong khi đó, miền Nam thực hiện cải cách điền địa với hai đợt phân phối lại ruộng đất trong khuôn khổ chương trình “Cải cách nông nghiệp và phát triển nông thôn” và “người cày có ruộng”.
Chính sách này được thực hiện từ năm 1955 – 1963, 1970 – 1973, bằng các sắc dụ số 2, 7, 28, 57 và sắc lệnh 003/60. Trong các sắc dụ cải cách lần 1 quy định mức giá thuê đất, thời hạn thuê và giao trả của tá điền; địa chủ được quy định sở hữu hạn điền 100 hécta. Các phần còn thừa sẽ được “truất hữu” và bán lại cho người thiếu ruộng không quá 5 hécta, các phần “truất hữu” sẽ được trả bằng tiền mặt và trả chậm. Tuy nhiên, chính sách này của miền Nam đã dẫn tới kết quả là 2% chủ đất sở hữu 45% đất đai và hơn một nửa người cày không có ruộng.
Trong lần hai, điền chủ giữ tối đa 15 hécta ở miền Nam và 5 hécta ở miền Trung, đất không trực canh sẽ bị “truất hữu” và bồi thường theo thời giá, chủ đất được trả 20% tiền mặt và 80% công khố phiếu với lãi suất 10% trong tám năm với giá trị đất ruộng là 2.5 lần năng suất thóc mảnh đất. Kết quả lần hai có khoảng 5 triệu người có đất, 20% phú nông và tư sản trung nông sở hữu 10% diện tích đất canh tác. Sau 1975 Sau khi thống nhất đất nước, chính sách đất đai của miền Bắc được áp dụng chung trên cả nước. Chính sách đất đai theo Nghị quyết 24 tháng 9/1975 thực hiện hợp tác hóa nông TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -6- nghiệp và hướng theo các nước XHCN bằng hình thức tập thể hóa, tập đoàn sản xuất.
Giai đoạn từ năm 1976 đến 1985, đại hội Đảng lần thứ IV tháng 12/1976 đã quyết định xây dựng HTX theo khu vực xã. Sau đó, các chỉ thị 57/CT-TƯ ngày 14/3/1978 và chỉ thị 43/CT-TƯ ngày 15/11/1978 đã xóa bỏ toàn bộ các hình thức sản xuất miền Nam trước 1975 và cải tạo theo hướng XHCN miền Bắc. Trong giai đoạn này, Chỉ thị 100 ngày 13/1/1980 quy định khoán việc sử dụng ruộng đất đến nhóm và từng lao động trong HTX nhiều hơn nhưng vẫn quản lý rất chặt chẽ. Cùng với đó, chỉ thị 19, 29, 35 và 56 điều chỉnh ruộng đất theo hướng XHCN, giao đất rừng và việc kế thừa đất rừng, đã cho phép sử dụng đất mà HTX chưa sử dụng để sản xuất, áp dụng các hình thức quan hệ hợp tác và phát triển kinh tế hộ gia đình (Nguyễn Đình Bồng, 2013).
Sự thay đổi rõ nhất bắt đầu từ năm 1986, đại hội Đảng VI đã làm thay đổi nền kinh tế - xã hội Việt Nam, chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng XHCN. Sự thay đổi này khởi đầu từ chỉ thị 100, hay còn gọi “khoán 100” với mục đích khoán sản phẩm cho người lao động trong sản xuất nông nghiệp. Tiếp đó là luật đất đai ra đời năm 1993 nhằm thể chế hóa chính sách đất đai và điều chỉnh, quy định các mối quan hệ kinh tế. Chính sách này kèm theo các nghị định 64/CP và 02/CP chỉ bó hẹp trong nông nghiệp, nông thôn và giải quyết vấn đề về chuyển nhượng, kinh doanh, kế thừa, chuyển đổi, chuyển nhượng và thế chấp cụ thể.
Tuy nhiên, luật đất đai 1993 gặp khó khăn khi giải quyết các vấn đề khi hoạt động mua bán đất đai ngày càng nhiều nên đã được bổ sung một số điều vào ngày 02/12/1998. Sau đó, luật này tiếp tục được sửa đổi bổ sung và ban hành vào ngày 1/10/2001, trong đó thay đổi khung giá, thuế chuyển quyền sử dụng, tính giá trị tài sản giao đất và bồi thường, quy hoạch và kế hoạch sử dụng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Luật đất đai năm 2003 tiếp tục sửa đổi và bổ sung một số điều, thừa nhận quyển sử dụng đất trong thị trường bất động sản. Đến năm 2013, luật đất đai tiếp tục được sửa đổi để phù hợp với thị trường đất đai, cho phép người nước ngoài xây dựng nhà mua bán và cho thuê.
Nhưng luật mới này vẫn hạn chế về thời hạn quyền sử dụng đất từ 20 đến 50 năm, diện tích sử dụng (không quá 3 hécta đối với thành phố trực thuộc trung ương và 2 hécta cho các tỉnh thành còn lại), về lựa chọn cây trồng, trao đổi và chuyển giao đất nông nghiệp. Tóm lại, chính sách đất đai ở Việt Nam thay đổi thường xuyên và không dự báo được trong dài hạn. Nếu như trước năm 1975, chính sách đất đai có sự khác biệt giữa hai miền Nam-Bắc, thì sau năm 1975 chính sách này theo hướng kế hoạch hóa tập trung như ở các TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -7- nước XHCN. Sau đó, tình hình kinh tế - xã hội nhiều thay đổi, tác động của hội nhập đã thúc đẩy quá trình cải cách đất đai qua các luật đất đai 1993, 2003 và 2013.
Theo đó, chuyển từ chính sách quản lý toàn diện sang chuyển quyền sử dụng cho các cá nhân nhưng vẫn xác định quyền sở hữu tập thể trên đất đai. Chính sách đất đai vì thế đã tạo được động lực phát triển trong những năm mở cửa, giao quyền cho các cá nhân sản xuất, tuy nhiên vẫn còn hạn chế về quyền sở hữu, giới hạn về thời hạn và diện tích nên khả năng sản xuất và đầu tư còn hạn chế.1 – Những thay đổi trong chính sách đất đai của Việt Nam trước và sau năm 1975. Miền Nam Năm1975-1978, Năm 1986, Năm 1998, 2001 Luật đất đai Cải cách điền áp dụng hợp tác chuyển đổi sang bổ sung điều 2013, cho phép địa hai lần vào hóa nông nghiệp nền kinh tế thị chỉnh khung người nước năm 1955 – theo mô hình trường định giá, chuyển ngoài xây dựng 1963, 1970 – các nước hướng XHCN. nhượng, tính giá mua bán và cho 1973, mua bán XHCN.
trị tài sản giao thuê bất động theo thị trường. 1975 Miền Bắc Chỉ thị 1980, Chỉ thị 1993, Luật đất đai Cải cách ruộng khoán sử dụng thể chế hóa 2003, thừa nhận đất năm 1953 - ruộng đất và các chính sách đất quyền sử dụng 1956 theo mô chỉ thị điều đai. đất trong thị hình XHCN. chỉnh sử dụng trường bất động dất chưa canh sản.
Nguồn: Dựa theo Wikipedia và Nguyễn Đình Bồng, 2013. Hiệu quả và đo lường hiệu quả 2. Khái niệm hiệu quả Khái niệm hiệu quả đề cập trong nghiên cứu này được hiểu cách chung nhất là xem xét và lựa chọn các nguồn lực sao cho có kết quả cao nhất. Hiệu quả có thể bao gồm cả ba yếu tố sử dụng nguồn lực ít bị lãng phí, sản xuất với chi phí thấp nhất, và sản xuất để đáp ứng được đầy đủ nhu cầu của con người.
Khái niệm này được hiểu trong sản xuất nông nghiệp là tổng hợp các hao phí lao động để sản xuất ra sản phẩm nông nghiệp. Điều này được diễn đạt bằng cách so sánh kết quả sản xuất đạt được so với chi phí lao động và vật chất mà TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -8- người sử dụng đã bỏ ra. Trong đó có thể kể đến việc sử dụng các nguồn lực đất, lao động và các nguồn lực tiềm năng dự trữ khác. Trong các nghiên cứu về kinh tế học khu vực công, một khái niệm hiệu quả được sử dụng phổ biến là hiệu quả Pareto.
Stiglitz (2015) đề cập đến hiệu quả Pareto mà ở đó không có người nào khấm khá hơn mà không làm thiệt hại đến người khác. Hiệu quả Pareto có được thông qua một thị trường cạnh tranh và phân phối ban đầu thích hợp hơn. Để đạt được hiệu quả Pareto cần phải đạt được hiệu quả trao đổi, hiệu quả sản xuất và hiệu quả tổ hợp sản phẩm. Ngoài ra, một số khái niệm hiệu quả khác được đề cập đến như hiệu quả tài chính, hiệu quả kinh tế trong sản xuất theo các khái niệm kinh tế học.
Cụ thể, hiệu quả kinh tế được hiểu là đạt được khi tăng sản lượng mà không sử dụng nhiều yếu tố đầu vào khi sản xuất ra cùng đơn vị sản phẩm. Sử dụng hiệu quả nguồn lực được thể hiện ở chi phí có thể tiết kiệm được hơn khi sử dụng công nghệ mới so với việc sử dụng công nghệ cũ.