chương 1, tác giả đề cập đến những nghiên cứu mà tác thu thập được có liên hệ với đề tài mà tác giả đang thực hiện cả trong và ngoài nước. Đối với bài nghiên cứu nước ngoài, khi kiểm tra mối quan hệ giữa chi phí sử dụng nợ và chất lượng BCTC cho thấy có mối quan hệ nghịch biến giữa hai yếu tố này như trong nghiên cứu của Bauwhede và các cộng sư (2015). Tuy nhiên tại Việt Nam, còn khan hiếm các đề tài nghiên cứu về mối quan hệ trên, dựa vào đó tác giả xác định lỗ hổng nghiên cứu làm ý tưởng cho việc thực hiện đề tài này. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 CHƯƠNG 2.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT Giới thiệu Trong chương này tác giả đưa ra các cơ sở lý thuyết về chất lượng BCTC và chi phí sử dụng nợ. Bao gồm đưa ra các cách đo lường chất lượng BCTC và chi phí sử dụng nợ; các cơ sở lý thuyết có liên quan đến chi phí sử dụng nợ của các doanh nghiệp; cũng như xác định các nhân tố (ngoại trừ chất lượng báo cáo tài chính) có ảnh hưởng đến chi phí sử dụng nợ. Một số khái niệm và thuật ngữ 2. Biến kế toán dồn tích (Accrual) Theo VAS số 01 – Chuẩn mực chung, nguyên tắc cơ sở dồn tích được định nghĩa như sau: “Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của doanh nghiệp liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền hoặc tương đương tiền.
BCTC lập trên cơ sở dồn tích phản ảnh tình hình tài chính của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và tương lai”. Kế toán doanh nghiệp dựa trên cơ sở dồn tích nên lợi nhuận trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là lợi nhuận dồn tích. Trong khi đó, dòng tiền từ hoạt động kinh doanh trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo cơ sở tiền – điều này có nghĩa là nhà quản trị chỉ được ghi nhận nghiệp vụ phát sinh khi có số tiền thực thu và thực chi, không thể điều chỉnh thời điểm ghi nhận giao dịch. Chính vì vậy, hai biến này có độ chênh lệch.
Độ lệch này chính là biến kế toán dồn tích. Hay nói cách khác biến kế toán dồn tích là phần lợi nhuận kế toán không bằng tiền được trình bày trong BCTC. Quản trị lợi nhuận (Earning Management) Quản trị lợi nhuận là 1 trong 3 quan điểm để nghiên cứu chất lượng BCTC: quản trị lợi nhuận, chỉnh sửa BCTC và gian lận. Đặc biệt quản trị lợi nhuận lại được TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 15 xem là quan điểm mang lại hiệu quả tối ưu nhất khi tiếp cận BCTC vì đó là gian lận phổ biến nhất trong thị trường vốn (Nguyễn Thị Phương Hồng, 2016).
Việc QTLN là một chiến lược của các nhà quản trị để quản lý được lợi nhuận của các doanh nghiệp, nâng cao mức lợi nhuận, đáp ứng các mục tiêu đã đề ra trước đó của ban lãnh đạo. Do đó, thay vì báo cáo lợi nhuận cao bất thường của doanh nghiệp trong một năm và lợi nhuận thấp vào những năm khác, các doanh nghiệp thường cố gắng giữ mức lợi nhuận ổn định hằng năm. Theo Security and Exchange Commission (SEC), việc lạm dụng QTLN là một cách thức làm sai kết quả BCTC có chủ ý. Khi mức độ ổn định của lợi nhuận bị phóng đại, SEC có quyền đưa ra các hình phạt.
Các phương pháp được sử dụng bởi các nhà quản lý để làm ổn định lợi nhuận có thể phức tạp, có thể liên quan đến các lựa chọn kế toán hoặc các quyết định điều hành (cũng có thể gọi là quản lý kinh tế lợi nhuận). Các nhà quản lý luôn hứa sẽ đem lại những con số lợi nhuận cao nên sẽ có những lúc bị cám dỗ để bịa ra những con số. Chính vì vậy, việc QTLN là một hành động cố ý, hành động này có thể hợp pháp hoặc không. Mỗi giám đốc điều hành phải hiểu rằng tác động của các lựa chọn các phương pháp kế toán có thể tác động đến các quyết định của doanh nghiệp.
Việc QTLN còn được gọi là “cách quản lý hợp lý và hợp pháp với mục đích tạo ra được các kết quả tài chính ổn định”. Việc QTLN không được nhầm lẫn với các hoạt động không hợp pháp với mục đích phóng đại các báo cáo tài chính và kết quả báo cáo không phản ánh được nền kinh tế thực tế. Những hoạt động này được gọi là “book cooking” bao gồm các hoạt động phóng đại kết quả tài chính. Theo các tài liệu trước đây, các hành động trên sẽ dẫn đến việc các nhà quản lý phải gặp những tình trạng vượt qua ranh giới của việc QTLN và “book cooking”.
Những áp lực của nhà quản lý khi phải tạo ra các lợi nhuận báo cáo cao được xác nhận bởi một cuộc khảo sát được thực hiện ở hội nghị Business Week CFO được tổ chức vào năm 2001, theo đó 55% CEO được khảo sát đã bị yêu cầu làm giả kết quả tài TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 16 chính, 17% trong đó đã đồng ý làm điều này. Kết quả cho rằng 8-12% doanh nghiệp có mức lợi nhuận giảm đã phóng đại lợi nhuận để đạt được mức lợi nhuận báo cáo tăng, trong khi 30-44% các doanh nghiệp có mức lợi nhuận âm đã phóng đại lợi nhuận để tạo ra mức lợi nhuận dương. Điều này cho rằng có một số lượng lớn các doanh nghiệp đã sử dụng các phương pháp QTLN để giữ mức tăng trưởng ổn định để tránh các trường hợp rơi vào tình trạng báo cáo “red ink”. Có rất nhiều kiểm toán và kế toán trên thế giới đồng ý rằng họ đã được các nhà quản lý yêu cầu đưa ra một bức tranh màu hồng về tình hình kinh tế của doanh nghiệp.
Họ cũng đồng ý rằng điều này ảnh hưởng đến các chỉ số lợi nhuận và chất lượng lợi nhuận bất kể là QTLN có hợp pháp hay không. Nếu các chỉ số lợi nhuận không chính xác thì chất lượng BCTC của doanh nghiệp cũng sẽ bị nghi ngờ. Do đó, chất lượng của BCTC cũng ảnh hưởng đến quyết định của các cổ đông, ngân hàng, bên cho vay, và chủ yếu là độ tin cậy của doanh nghiệp. Hay nói cách khác, kế toán và kiểm toán đồng ý rằng QTLN là một trách nhiệm của nhà quản lý.
Với lý do này, các phương pháp kế toán/ kiểm toán được sử dụng để thay đổi báo cáo tài chính (bao gồm cả sự thay đổi trong giá trị tài sản dài hạn). Khi QTLN bất hợp pháp, họ xem đó là gian lận cho lợi ích cá nhân. Các phương pháp QTLN dù có hợp pháp hay không đều phản ảnh chất lượng lợi nhuận, cũng như chất lượng các BCTC của doanh nghiệp. Dựa vào các tiêu chuẩn kế toán, không có sự phân biệt rạch ròi giữa QTLN và các lỗi tài chính, hay nói cách khác là QTLN hợp pháp và không hợp pháp.
Từ đó, tùy theo các nhà kiểm toán và phân tích tài chính đưa ra ý kiến của họ. Có thể hiểu rằng, QTLN chính là sự điều chỉnh lợi nhuận nhằm đạt được mục tiêu mà nhà quản trị đặt ra, đó là “…một sự can thiệp có tính toán kĩ lưỡng trong quá trình công bố BCTC ra ngoài, với mục đích đạt được một số lợi ích cá nhân” (Schipper, 2003). Bên cạnh đó, QTLN có thể xảy ra khi nhà quản trị sử dụng sự điều chỉnh trong BCTC và trong cấu trúc giao dịch để thay đổi BCTC hoặc nhằm đánh lừa TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 17 một số bên liên quan về tình hình hoạt động kinh doanh của công ty hoặc nhằm ảnh hưởng đến kết quả các hợp đồng mà phụ thuộc vào số liệu báo cáo kế toán. QTLN như những nỗ lực của nhà quản lý để gây ảnh hưởng hoặc “điều khiển” lợi nhuận bằng cách sử dụng phương pháp kế toán đặc biệt (hoặc các phương pháp đang thay đổi), công nhận một khoản mục không định kỳ, trì hoãn hoặc đẩy nhanh việc ghi nhận các giao dịch chi phí hoặc doanh thu, hoặc sử dụng các phương pháp khác được thiết kế gây ảnh hưởng đến lợi nhuận ngắn hạn.
Mặc dù có khá nhiều cách ghi nhận QTLN trước đây, nhưng trong phần lớn các nghiên cứu, đã nhóm QTLN thành hai loại là quản trị thực và quản trị lợi nhuận dựa trên biến kế toán dồn tích. Ở loại thứ nhất, QTLN thực (Real Earning Management) như là một hành động có ảnh hưởng đến dòng tiền. Còn QTLN dựa trên biến kế toán dồn tích (Accrual Management) chính là thông qua những thay đổi trong chính sách kế toán và ước tính kế toán có thể kể đến những nghiên cứu của Jones (1991), Dechow và các cộng sự (1995), Dechow và các cộng sự (2010). Trong quá trình nghiên cứu đã cho tác giả thấy cách tiếp cận trực tiếp nhất nhưng cũng là cách tiếp cận phổ biến nhất đối với QTLN chính là sử dụng biến kế toán dồn tích.
Các ý kiến ủng hộ cho rằng các nhà quản lý sẽ sử dụng phương pháp biến kế toán dồn tích tùy ý để điều chỉnh doanh thu dịch chuyển giữa các kỳ kế toán hoặc trong việc trì hoãn chi tiêu (Jones, 1991; Dechow và các cộng sự, 1995). Biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh chính là lợi nhuận có được bằng việc vận dụng các phương pháp kế toán – chính vì vậy nó được xem là đại diện cho QTLN. Từ đó có thể thấy rằng QTLN không phải là một khái niệm mới mẻ và xa lạ, mà từ lâu đã được các nhà nghiên cứu quan tâm, đồng thời cũng cho thấy đây là một vấn đề phức tạp, khó khăn trong cách tiếp cận và định nghĩa chính xác, cụ thể và vẫn luôn là đề tài gây tranh cãi, thu hút sự bàn luận nhằm đưa ra được định nghĩa chính xác nhất. Trong luận văn này tác giả đã sử dụng QTLN để đo lường chất lượng BCTC.
Và dù QTLN hợp pháp hay không hợp TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 18 pháp đều ảnh hưởng đến chất lượng lợi nhuận và đồng thời ảnh hưởng đến chất lượng BCTC của một công ty. Chất lượng lợi nhuận (Earning Quality) Chất lượng lợi nhuận là độ chính xác cụ thể vạch ra được dồn tích hiện hành dòng tiền trong năm nay, năm ngoái và năm kế tiếp. Hay chất lượng lợi nhuận là mức độ lợi nhuận thuần được trình bày trên BCKQKD khác so với lợi nhuận thực sự.