Chương 1: giới thiệu tổng quan về đề tài, trong đó giới thiệu về tính cấp thiết, tính mới của đề tài nghiên cứu; mục tiêu, phạm vi nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu và những đóng góp mới của đề tài. Chương 2: tổng quan lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm về tác động của cấu trúc vốn tới hoạt động của doanh nghiệp. Nội dung chính của chương này nhằm tổng hợp, so sánh và đánh giá các lý thuyết liên quan đến cấu trúc vốn cũng như tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm. Chương 3: cấu trúc vốn và hoạt động của doanh nghiệp niêm yết.
Nội dung chính của chương này tập trung vào phân tích mô tả cấu trúc vốn và hoạt động của các doanh nghiệp niêm yết trên TTCK Việt Nam. Chương 4: phân tích tác động của cấu trúc vốn tới hoạt động của doanh nghiệp niêm yết. Nội dung chính là trình bày kết quả và phân tích kết quả nghiên cứu về tác động của cấu trúc vốn tới hoạt động của doanh nghiệp niêm yết. Chương 5: một số giải pháp về hoàn thiện cấu trúc vốn và nâng cao hoạt động của công ty niêm yết.
8 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC VỐN TỚI HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY 2. Tổng quan về cấu trúc vốn và hoạt động của công ty 2. Nguồn vốn của công ty Nguồn vốn có vai trò hết sức quan trọng đến hoạt động của doanh nghiệp cũng như nền kinh tế nói chung. Nguồn vốn của doanh nghiệp có thể được định nghĩa, phân tích theo các góc độ và mục tiêu khác nhau.
Một cách khái quát, có thể hiểu nguồn vốn là toàn bộ những nguồn lực đo bằng tiền được bỏ ra ban đầu cùng với các giá trị do doanh nghiệp tích lũy được được trong quá trình sản xuất kinh doanh hoặc huy động được từ các nguồn khác. Trong nền kinh tế hiện đại với sự phát triển mạnh mẽ các phương thức huy động và phân bổ nguồn vốn thông qua hệ thống thị trường tài chính – tiền tệ đã giúp cho doanh nghiệp mở rộng và tận dụng cơ hội tiếp cận nguồn vốn tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh và phát triển doanh nghiệp ngày càng thuận lợi hơn. Thông thường, nguồn vốn của doanh nghiệp bao gồm nguồn vốn nợ và vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp. Đặc điểm, lĩnh vực hoạt động, quy mô, thời gian hoạt động và các phương thức huy động các nguồn vốn cùng với cấu trúc, hoạt động và trình độ phát triển của thị trường chứng khoán là cơ sở để các doanh nghiệp xây dựng chính sách cấu trúc vốn.
Nguồn vốn nợ Nguồn vốn nợ tạo thành nguồn vốn quan trọng tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Theo Tirole (2006), các nguồn vốn nợ của doanh nghiệp bao gồm năm nhóm cơ bản sau. Một là, theo đối tượng cung cấp vốn nợ sẽ bao gồm các khoản vay ngân hàng, vốn nợ được chào bán riêng lẻ cho các nhà đầu tư chuyên nghiệp như công ty bảo hiểm, chào bán trái phiếu ra công chúng, hoặc sử dụng các loại hình khác như tín dụng thương mại. Hai là, doanh nghiệp có thể phát hành các công cụ nợ ngắn hạn hoặc công cụ nợ dài hạn.
Ba là, doanh nghiệp có thể đưa ra các điều khoản để hạn chế quyền kiểm soát của mình cho người cho vay trong các công cụ nợ. Bốn là, các công cụ nợ có thể có tài sản bảo đảm. Năm là, các công cụ nợ có thể có thứ tự ưu tiên thanh toán khác nhau trong trường hợp doanh nghiệp bị giải thể, phá sản. Các đặc trưng cơ bản của nguồn vốn nợ bao gồm những yếu tố sau: 9 - Tài sản bảo đảm: các khoản nợ có thể có tài sản bảo đảm hoặc không có tài sản bảo đảm.
Khoản nợ không có tài sản bảo đảm được dựa trên uy tín và hoạt động của doanh nghiệp, do vậy việc thu hồi khoản nợ được dựa trên hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Khoản nợ có tài sản bảo đảm được thực hiện dựa trên tài sản của doanh nghiệp. Trong trường hợp doanh nghiệp không thể thực hiện được nghĩa vụ thanh toán, khi đó việc hoàn trả nợ được dựa trên tài sản của doanh nghiệp. - Các khoản nợ có thể giao dịch: các khoản nợ dưới hình thức trái phiếu được phát hành trên thị trường chứng khoán sơ cấp thông qua tổ chức bảo lãnh phát hành hoặc trực tiếp bởi doanh nghiệp.
Sau đó các công cụ nợ này được giao dịch trên thị trường chứng khoán thứ cấp. Các khoản nợ được chào bán riêng lẻ hoặc dưới hình thức nợ vay ngân hàng sẽ có tính thanh khoản và được giao dịch ít hơn, mặc dù các khoản nợ này cũng có thể được chuyển nhượng sau đó trên thị trường chứng khoán thông qua quá trình chứng khoán hóa. Khả năng chuyển nhượng các khoản nợ này phụ thuộc vào tính chất đối xứng của thông tin. Trong trường hợp có sự bất đối xứng về thông tin do người mua không có đầy đủ thông tin về chứng khoán nợ thì khi đó khả năng giao dịch chuyển nhượng sẽ khó diễn ra như Akerlof (1970) đã chỉ ra về thông tin bất đối xứng.
- Theo thời gian đáo hạn: các khoản nợ được xác định theo kỳ hạn ngắn hạn hay dài hạn mang tính tương đối. Tuy nhiên các khoản nợ dưới 1 năm thường là các khoản nợ ngắn hạn trong khi các khoản nợ trên 1 năm thường là các khoản nợ dài hạn. Các khoản nợ ngắn hạn có thể bao gồm tín dụng ngắn hạn do ngân hàng cung cấp cho doanh nghiệp; thương phiếu là các khoản nợ thương mại trong thời gian ngắn, thường từ 30 ngày đến 90 ngày được giao dịch trên thị trường và không được bảo đảm. Trong khi đó tín dụng thương mại là nguồn vốn ngắn hạn quan trọng do nhà cung cấp cung cấp cho doanh nghiệp.
Nguồn vốn dài hạn cho doanh nghiệp bao gồm các khoản nợ vay do ngân hàng cung cấp hoặc được huy động thông qua chào bán riêng lẻ hoặc chào bán ra công chúng trên thị trường chứng khoán. Thông thường các doanh nghiệp lớn là những doanh nghiệp có thể phát hành trái phiếu để huy động khối lượng lớn. Các trái phiếu phát hành thường được bảo lãnh bởi ngân hàng đầu tư hay công ty chứng khoán. Sau khi phát hành, trái phiếu được giao dịch trên thị trường chứng khoán.
Giá trái phiếu sẽ phản ánh biến động lãi suất hiện tại và mức độ tín nhiệm của doanh nghiệp phát hành. Những chủ thể chính tham gia mua trái phiếu là các định chế bao gồm quỹ đầu tư, công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí, các ngân hàng. Tirole (2006) cũng chỉ ra cụ thể tính chất và sự khác nhau giữa phía cung – người cho vay và phía cầu – người đi vay. Người cho vay có thể chia thành nhóm các nhà 10 đầu tư chuyên nghiệp, bao gồm ngân hàng, các định chế tài chính…thường thực hiện đầu tư riêng lẻ và kiểm soát các điều khoản vay kỹ hơn; các nhà đầu tư nhỏ lẻ thực hiện đầu tư vào các công cụ nợ dựa trên thông tin phổ biến.
Các điều kiện và điều khoản đối với các nhóm đầu tư này cũng có sự khác biệt. Các nhà đầu tư chuyên nghiệp thường thực hiện đánh giá phân tích kỹ trước khi cung cấp vốn vay, trong khi đó nhà đầu tư nhỏ lẻ thực hiện đầu tư dựa trên đánh giá của các tổ chức chuyên nghiệp như tổ chức định mức tín nhiệm. Sự khác biệt về điều khoản và điều kiện của các khoản vay do nhà đầu tư chuyên nghiệp đầu tư cũng khác nhau. Các khoản nợ vay được cung cấp bởi nhà đầu tư chuyên nghiệp thường có các điều kiện chặt chẽ hơn so với nhà đầu tư nhỏ lẻ.
Các khoản nợ vay cũng có sự khác nhau trên các phương diện về thứ tự ưu tiên thanh toán, thời gian đáo hạn và sự bảo đảm thanh toán. Thời gian đáo hạn của các khoản nợ vay cũng thay đổi theo loại tài sản được tài trợ. Các tài sản cố định thường được tài trợ bởi nợ vay dài hạn. Các khoản nợ vay ngân hàng và nợ vay được phát hành riêng lẻ thường được bảo đảm và ưu tiên thanh toán.
Các loại trái phiếu được phát hành ra công chúng thường ít khi được bảo đảm và có thứ tự ưu tiên thanh toán thấp hơn. Thông thường ngân hàng cung cấp các khoản nợ vay ngắn hạn; tuy nhiên thực tế ngân hàng cũng cung cấp khá đa dạng các khoản nợ khác nhau, bao gồm cả tín dụng thương mại, tín dụng ngắn hạn, tín dụng dài hạn. Trên góc độ doanh nghiệp đi vay, về cơ bản có thể chia thành 2 nhóm gồm các doanh nghiệp có độ tín nhiệm cao và nhóm doanh nghiệp độ tín nhiệm thấp. Nhóm các doanh nghiệp tín nhiệm cao thường có nợ dài hạn nhiều hơn.
Theo Gertler và Gilchrist (1994), tỷ lệ nợ nợ ngắn hạn của doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ tại Mỹ tương ứng lần lượt là 13% và 29%; tại Đức tương ứng lần lượt là 39,5% và 55,9%. Các doanh nghiệp có uy tín cao cũng dễ huy động vốn nợ thông qua chào bán trái phiếu ra công chúng, trong khi đó các doanh nghiệp có uy tín thấp sẽ khó hơn. Các doanh nghiệp uy tín thấp hay nhiều rủi ro sẽ phải huy động vốn vay từ các nhà đầu tư chuyên nghiệp như quỹ đầu tư mạo hiểm… 2. Vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu là các khoản vốn do cổ đông đầu tư vào doanh nghiệp và chứa đựng những rủi ro trong hoạt động của doanh nghiệp nhưng đổi lại là lợi nhuận thu được từ hoạt động của doanh nghiệp.
Vốn chủ sở hữu thể hiện giá trị tài sản thuần của doanh nghiệp, được đo lường bằng giá trị còn lại của tài sản sau khi đã trừ các nghĩa vụ nợ. Vốn chủ sở hữu bao gồm các khoản sau. Vốn góp của cổ đông là vốn do các cổ đông đóng góp được ghi nhận theo mệnh giá của cổ phần và được ghi nhận là vốn điều lệ của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể thực hiện bổ sung vốn chủ sở hữu thông qua 11 phát hành thêm cổ phiếu từ các cổ đông thông qua thị trường chứng khoán.
Vốn chủ sở hữu được huy động thông qua phát hành cổ phiếu mang lại nguồn vốn ổn định lâu dài cho doanh nghiệp mà không chịu áp lực phải hoàn trả nhà đầu tư như đối với trái phiếu. Việc chi trả cổ tức đối với cổ phiếu cũng tùy thuộc hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và chính sách chi trả cổ tức. Do vậy, khi doanh nghiệp hoạt động khó khăn, doanh nghiệp không có áp lực phải chi trả cổ tức cho cổ đông.