Tổng quan luận án
Công trình khoa học mang tên "Sự tham gia của khu vực kinh tế tư nhân vào phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ ở Việt Nam: thực trạng và giải pháp" do nghiên cứu sinh Bùi Thị Vân thực hiện, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Duy Dũng và GS. Từ Sỹ Sùa. Luận án thuộc chuyên ngành Kinh tế chính trị, mã số 9.02, được bảo vệ tại Học viện Khoa học xã hội trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam năm 2019.
Về tính cấp thiết, kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ giữ vai trò huyết mạch trong lưu thông hàng hóa, đi lại và bảo đảm an ninh quốc phòng, đòi hỏi quy mô vốn đầu tư rất lớn. Nguồn thu ngân sách nhà nước không thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu mở rộng hệ thống đường bộ, đặc biệt trong bối cảnh thâm hụt ngân sách gia tăng và nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) bị cắt giảm khi Việt Nam đạt mức thu nhập trung bình. Dẫn chiếu nghiên cứu của Mona Hammami và các cộng sự (2006), tác giả nhấn mạnh không một chính phủ nào có thể độc lập cung cấp đầy đủ cơ sở hạ tầng giao thông mà không hợp tác với khu vực tư nhân. Tại Việt Nam, chủ trương xã hội hóa đầu tư hạ tầng được khẳng định tại Nghị quyết số 13-NQ/TW của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI. Quy chế thí điểm đầu tư theo hình thức đối tác công - tư (PPP) ban hành năm 2010 đã dẫn tới giai đoạn gia tăng nhanh chóng các dự án BOT đường bộ trong giai đoạn 2011-2015. Tuy nhiên, hình thức này bộc lộ nhiều bất cập, dẫn tới xung đột lợi ích gay gắt giữa người sử dụng đường bộ, nhà đầu tư và cơ quan quản lý nhà nước (điển hình là hiện tượng người tham gia giao thông dùng tiền lẻ phản đối tại một số trạm thu phí). Tác giả xác định khoảng trống nghiên cứu: trước thời điểm luận án hoàn thành, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống dưới góc độ kinh tế chính trị về sự tham gia của khu vực kinh tế tư nhân vào phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ ở Việt Nam.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là phân tích cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế, đánh giá thực trạng sự tham gia của khu vực kinh tế tư nhân vào phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ tại Việt Nam, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả cho giai đoạn 2020-2025 và tầm nhìn 2030. Để đạt được mục tiêu này, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Luận giải những vấn đề lý luận cơ bản về sự tham gia của khu vực kinh tế tư nhân vào phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ ở Việt Nam.
- Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và rút ra bài học cho Việt Nam về sự tham gia của khu vực kinh tế tư nhân vào phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ.
- Đánh giá thực trạng, kết quả, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế về sự tham gia của khu vực kinh tế tư nhân vào phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ ở Việt Nam.
- Đề xuất các giải pháp tăng cường và nâng cao hiệu quả sự tham gia của khu vực kinh tế tư nhân vào phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ ở Việt Nam trong thời gian tới.
Đối tượng nghiên cứu là sự tham gia của khu vực kinh tế tư nhân vào phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ và các chính sách, giải pháp thu hút khu vực này tại Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu được xác lập như sau:
- Không gian: Lãnh thổ Việt Nam, có liên hệ so sánh với kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới.
- Thời gian: Khảo sát thực trạng tập trung chủ yếu vào giai đoạn 2011-2018; đề xuất giải pháp cho giai đoạn 2020-2025 và định hướng đến năm 2030.
- Nội dung: Tập trung vào hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ theo hình thức PPP, đi sâu vào các dự án BOT trên hệ thống đường quốc lộ và đường cao tốc; không xem xét việc người dân góp ngày công, tài sản làm đường nông thôn hoặc việc tư nhân mua cổ phần của doanh nghiệp nhà nước ngành giao thông.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu liên quan thành ba nhóm nội dung chính:
Nhóm thứ nhất gồm các công trình nghiên cứu về phát triển và đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ. Trên thế giới, Harwitz M. (1962) và Hội đồng nghiên cứu Cao tốc bang Virginia (1965) đã phân tích các lợi ích kinh tế - xã hội của đường cao tốc. Boarnet G. (1995) làm rõ mối quan hệ giữa đường cao tốc và sản lượng kinh tế. Pojani G. (2008) nghiên cứu hệ thống giao thông công cộng đường bộ đô thị tại châu Âu. Tại Việt Nam, Nghiêm Văn Dĩnh (2010, 2012) cung cấp cơ sở khoa học về quản lý vốn đầu tư xây dựng giao thông. Hoàng Văn Long (2015) khảo sát tuyến cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh - Trung Lương. Đỗ Đức Tú (2012), Đặng Trung Thành (2011), Bùi Hoàng Lan (2010), Dương Văn Chung (2015), Phạm Hoài Chung (2016), Phạm Thị Tuyết (2018), Phạm Thị Xuân (2018), Đặng Thị Hà (2013) và Phí Vĩnh Tường (2015) đã phân tích nhu cầu vốn, quy hoạch mạng lưới và các phương thức huy động vốn ngoài ngân sách. Báo cáo chung của JICA và Bộ Giao thông Vận tải (2010) dự báo đến năm 2030 nhu cầu vận tải hành khách và hàng hóa đường bộ tại Việt Nam sẽ tăng gấp nhiều lần so với năm 2008.
Nhóm thứ hai gồm các công trình về khu vực kinh tế tư nhân và đầu tư PPP trong hạ tầng giao thông. Lương Minh Cừ (2011) và Vũ Hùng Cường (2011) xác định kinh tế tư nhân gồm cả khu vực tư nhân trong nước và khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Nguyễn Trọng Hoài và Huỳnh Thanh Điền (2011) cùng báo cáo của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (2011) phân tích chính sách phát triển kinh tế tư nhân ở Hàn Quốc, Trung Quốc, Indonesia. Về mô hình PPP, các nghiên cứu của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB, 2000, 2008, 2012), Ngân hàng Thế giới và PPIAF, Treasury H.M. (2012), Afriyie G.O. (2010), Yongjian C. (2009) chỉ ra tính ưu việt của PPP so với đầu tư công truyền thống về chi phí và tiến độ. Tại Việt Nam, Nguyễn Thị Ngọc Huyền (2013) tổng hợp 6 hình thái hợp đồng PPP; Ngô Thế Vinh (2015), Ủy ban Kinh tế Quốc hội (2013), Bộ Giao thông Vận tải (2009) và Huỳnh Thị Thúy Giang (2012) phân tích các rào cản thể chế đối với hợp đồng BOT, BTO, BT.
Nhóm thứ ba gồm các nghiên cứu về nhân tố tác động, rào cản và rủi ro. Li B. và các cộng sự (2005a), Badran Y. (2013), Osei-Kyei và các cộng sự (2015b) xác định các rủi ro về lạm phát, tỷ giá, chi phí xây dựng và khung pháp lý. Tại Việt Nam, Nguyễn Hồng Thái và Thân Thanh Sơn (2013) cùng Thân Thanh Sơn (2015) nhận diện 8 loại rủi ro và 51 yếu tố ảnh hưởng đến dự án PPP đường bộ, trong đó nổi bật là cơ chế lựa chọn nhà đầu tư chưa cạnh tranh, công tác giải phóng mặt bằng chậm và việc thiếu đồng thuận xã hội khi thu phí.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết là: hầu hết các công trình trước đây chỉ tiếp cận dưới góc độ kỹ thuật, tài chính dự án đơn thuần hoặc nghiên cứu các dự án có vốn nhà nước nắm chi phối. Luận án của Bùi Thị Vân đi sâu phân tích từ góc độ Kinh tế chính trị, làm rõ cơ chế điều hòa lợi ích kinh tế giữa Nhà nước, nhà đầu tư tư nhân và người sử dụng dịch vụ trong các dự án BOT đường bộ, cung cấp cơ sở cho việc hoàn thiện chính sách tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng cơ sở lý luận dựa trên ba lý thuyết kinh tế:
- Lý thuyết lợi ích: Xác định lợi ích kinh tế cá nhân là động lực vật chất trực tiếp thúc đẩy khu vực tư nhân tham gia đầu tư nhằm mục tiêu lợi nhuận. Người sử dụng đường bộ hướng tới tối thiểu hóa chi phí chi trả và nhận được chất lượng dịch vụ tốt. Nhà nước giữ trách nhiệm xã hội trong cung ứng hạ tầng nhưng do hạn hẹp ngân sách nên huy động tư nhân. Quan hệ này đòi hỏi cơ chế kết hợp hài hòa lợi ích giữa Nhà nước - Nhà đầu tư - Người sử dụng, đồng thời nhận diện và ngăn chặn "lợi ích nhóm" tiêu cực.
- Lý thuyết Đối tác công - tư (PPP): Thể hiện sự hợp tác giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân nhằm cung ứng dịch vụ công trên nguyên tắc chia sẻ trách nhiệm, lợi ích và rủi ro.
- Lý thuyết Keynes về vai trò điều tiết của Nhà nước: Khẳng định sự cần thiết của các công cụ chính sách kinh tế (vốn mồi, thuế, bảo lãnh doanh thu, bảo lãnh tỷ giá) nhằm định hướng và kích thích nguồn vốn tư nhân tham gia vào các lĩnh vực hạ tầng thiết yếu.
Bên cạnh đó, luận án xác định bản chất kinh tế của kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ là hàng hóa công cộng không thuần túy, do có đặc tính loại trừ (có thể loại trừ người không trả phí thông qua trạm thu phí hoặc quy định hành chính) và có tính cạnh tranh trong tiêu dùng khi xảy ra ùn tắc giao thông. Do đó, người thụ hưởng dịch vụ có trách nhiệm trả phí để bù đắp chi phí đầu tư và duy tu công trình.
Về phương pháp luận, tác giả vận dụng phương pháp trừu tượng hóa khoa học, phương pháp duy vật biện chứng cùng phương pháp logic kết hợp lịch sử. Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể được tổng hợp trong bảng sau:
| Phương pháp nghiên cứu |
Nguồn tư liệu và công cụ thực hiện |
Mục đích ứng dụng trong luận án |
| Thu thập và xử lý tài liệu |
Báo cáo, niên giám của Bộ GTVT, Bộ KH&ĐT, Tổng cục Thống kê, Tổng cục Đường bộ Việt Nam, Viện Chiến lược và Phát triển GTVT, Kiểm toán Nhà nước |
Xác lập cơ sở lý thuyết, tổng quan chính sách và thu thập số liệu thứ cấp về các dự án hạ tầng |
| Phân tích thống kê và so sánh |
Số liệu chuỗi thời gian giai đoạn 2001-2010, 2011-2015 và các năm tiếp theo; so sánh cơ cấu vốn đầu tư nhà nước và tư nhân |
Đánh giá mức độ huy động vốn, biến động số km đường BOT, tình trạng đội vốn dự án |
| Phân tích hệ thống |
Đặt dự án hạ tầng trong tổng thể quy hoạch ngành, chính sách kinh tế vĩ mô và môi trường pháp lý |
Làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa các chủ thể tham gia dự án PPP |
| Phỏng vấn chuyên gia |
Phiếu hỏi phỏng vấn sâu 11 chuyên gia (thuộc Ban Quản lý dự án Hồ Chí Minh, Sở GTVT địa phương, Hiệp hội Vận tải ô tô Việt Nam, doanh nghiệp vận tải, nhà đầu tư) |
Thu thập đánh giá thực tế về năng lực nhà đầu tư, khung chính sách và công tác quản lý BOT |
| Khảo sát người sử dụng |
Phỏng vấn trực tiếp các cá nhân sở hữu xe ô tô thường xuyên lưu thông qua các trạm thu phí BOT |
Ghi nhận phản ánh thực tế về mức phí, vị trí trạm thu phí và mức độ hài lòng với chất lượng đường |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương này tổng thuật toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến hạ tầng giao thông đường bộ, khu vực kinh tế tư nhân và mô hình PPP. Tác giả phân tích các luận điểm về hiệu quả kinh tế của đường cao tốc, lợi thế của hình thức PPP so với đầu tư công truyền thống (như giảm tỷ lệ chậm tiến độ và vượt tổng mức đầu tư), đồng thời chỉ ra các rào cản về cơ chế đấu thầu, định giá và chia sẻ rủi ro. Qua việc chỉ ra các khoảng trống khoa học, tác giả xác lập khung phân tích của luận án: nghiên cứu sự tham gia của tư nhân dưới lăng kính kinh tế chính trị, tập trung vào mối quan hệ điều hòa lợi ích giữa Nhà nước, nhà đầu tư BOT và người tham gia giao thông.
Chương 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về sự tham gia của khu vực kinh tế tư nhân vào phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ
Chương 2 làm rõ các khái niệm cốt lõi:
- Kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ gồm cầu, đường, bến bãi và các công trình phụ trợ. Nội dung phát triển bao gồm: dự báo; quy hoạch; xây dựng (xây mới, nâng cấp, mở rộng); quản lý, khai thác và bảo trì. Tư nhân tham gia chủ yếu vào khâu xây dựng, quản lý khai thác và bảo trì.
- Khu vực kinh tế tư nhân bao gồm các doanh nghiệp, hộ kinh doanh cá thể trong nước và doanh nghiệp FDI. Động cơ tham gia của khu vực này là tối đa hóa lợi ích kinh tế (thu hồi vốn và đạt tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng).
- Về hình thức hợp đồng, chương này phân tích 6 hình thái PPP: O&M, BT, nhượng quyền, liên doanh, DBFM và BOT (trong đó BOT là hình thức phổ biến nhất tại Việt Nam). Tác giả thiết lập các tiêu chí đánh giá mức độ tham gia của tư nhân: quy mô vốn huy động, số lượng và chất lượng công trình, hiệu quả khai thác và mức độ hài hòa lợi ích.
- Về kinh nghiệm quốc tế, luận án phân tích chính sách của Hàn Quốc (ban hành Luật đầu tư tư nhân, miễn 10% thuế giá trị gia tăng, cơ chế bảo lãnh doanh thu tối thiểu 90%), Trung Quốc (mạng lưới đường cao tốc thu phí quy mô lớn), Malaysia, Úc và Nam Phi. Từ đó, tác giả rút ra bài học cho Việt Nam về việc xây dựng khung pháp lý minh bạch, cơ chế đấu thầu cạnh tranh và phân bổ rủi ro công bằng giữa Nhà nước và nhà đầu tư.
Chương 3: Thực trạng tham gia của khu vực kinh tế tư nhân vào phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ ở Việt Nam
Tác giả phân tích số liệu thực tế về hệ thống đường bộ và chính sách huy động vốn từ năm 1997 đến 2018. Giai đoạn 2011-2015 ghi nhận sự gia tăng vượt bậc của nguồn vốn tư nhân trong phát triển hạ tầng đường bộ theo hình thức BOT, góp phần hiện đại hóa nhiều tuyến quốc lộ huyết mạch và mở rộng số km đường cao tốc. Tuy nhiên, chương 3 làm rõ những tồn tại cơ bản:
- Cơ chế lựa chọn nhà đầu tư: hầu hết các dự án BOT đường bộ áp dụng hình thức chỉ định thầu, thiếu sự cạnh tranh qua đấu thầu rộng rãi.
- Cơ cấu tài chính của nhà đầu tư: tỷ lệ vốn chủ sở hữu thấp, chủ yếu dựa vào vốn vay thương mại từ các ngân hàng trong nước (vốn vay chiếm tới 80-90% tổng mức đầu tư), tiềm ẩn rủi ro nợ xấu cho hệ thống ngân hàng.
- Tình trạng đội vốn: nhiều dự án đường bộ có chi phí thực tế vượt xa tổng mức đầu tư phê duyệt ban đầu (được tổng hợp tại Bảng 3.5 của luận án).
- Bất cập trong thu phí và cung ứng dịch vụ: vị trí đặt trạm thu phí tại một số tuyến đường chưa hợp lý (đặt trên đường độc đạo hoặc trạm đặt ngoài phạm vi dự án cải tạo nâng cấp), mức thu phí cao so với chất lượng dịch vụ, thời gian thu phí chưa minh bạch, dẫn tới các phản ứng tiêu cực từ tài xế và người dân (Hộp 3.1, Hộp 3.3).
- Nguyên nhân của các hạn chế bắt nguồn từ khung pháp lý chưa đồng bộ (văn bản dưới luật còn chồng chéo), công tác lập và thẩm định dự án chưa chặt chẽ, năng lực giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền còn yếu và sự chi phối của lợi ích nhóm tiêu cực.
Chương 4: Giải pháp tăng cường và nâng cao hiệu quả sự tham gia của khu vực kinh tế tư nhân vào phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ ở Việt Nam
Dựa trên phân tích bối cảnh phát triển kinh tế, nợ công và quy hoạch giao thông đường bộ đến năm 2025, định hướng 2030, tác giả đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp:
- Nhóm giải pháp điều hòa lợi ích giữa các chủ thể: Thiết lập cơ chế giám sát doanh thu thu phí minh bạch thông qua hệ thống thu phí tự động không dừng (ETC); rà soát, điều chỉnh vị trí các trạm thu phí BOT bất hợp lý; xác định mức phí phù hợp với khả năng chi trả của người dân và bảo đảm thời gian hoàn vốn thỏa đáng cho nhà đầu tư; thực hiện cơ chế chia sẻ rủi ro giảm doanh thu giữa Nhà nước và doanh nghiệp.
- Nhóm giải pháp về phía Nhà nước: Hoàn thiện thể chế bằng việc xây dựng và ban hành Luật PPP; chuyển giao hoàn toàn từ chỉ định thầu sang đấu thầu cạnh tranh quốc tế và trong nước; nâng cao trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong lập dự án và giải phóng mặt bằng; thực hiện các cam kết bảo lãnh chính phủ về chuyển đổi ngoại tệ và doanh thu tối thiểu.
- Nhóm giải pháp nâng cao năng lực khu vực tư nhân: Khuyến khích hình thành các liên danh doanh nghiệp tư nhân có năng lực tài chính mạnh; tăng tỷ lệ vốn chủ sở hữu trong dự án; áp dụng công nghệ thi công và quản trị tiên tiến nhằm kiểm soát chi phí và chất lượng công trình.
- Nhóm giải pháp đối với người sử dụng dịch vụ và các bên liên quan: Tăng cường công khai, minh bạch thông tin dự án để tạo sự đồng thuận xã hội; phát huy vai trò giám sát, phản biện của Hiệp hội Vận tải ô tô Việt Nam và người dân trong quá trình vận hành các trạm thu phí.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận, luận án có các đóng góp cụ thể:
- Hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về sự tham gia của khu vực kinh tế tư nhân vào kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ dưới góc độ Kinh tế chính trị.
- Xác định bản chất kinh tế của kết cấu hạ tầng đường bộ là hàng hóa công cộng không thuần túy có đặc tính loại trừ, làm rõ nội hàm, hình thức và động cơ lợi ích kinh tế của khu vực tư nhân.
- Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá mức độ tham gia của khu vực tư nhân và luận giải cơ chế điều hòa lợi ích kinh tế giữa Nhà nước, nhà đầu tư tư nhân và người sử dụng dịch vụ trong các dự án BOT đường bộ.
Về mặt thực tiễn, luận án mang lại những kết quả sau:
- Cung cấp bức tranh thực trạng toàn diện về các dự án BOT đường bộ tại Việt Nam giai đoạn 2011-2018, chỉ rõ những kết quả huy động vốn ngoài ngân sách cũng như các khuyết tật về chỉ định thầu, đòn bẩy tài chính cao và bất cập vị trí trạm thu phí.
- Phân tích nguyên nhân khách quan và chủ quan của các xung đột xã hội tại các trạm thu phí BOT.
- Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ đến năm 2025 và tầm nhìn 2030, trong đó giải pháp điều hòa lợi ích và hoàn thiện khung pháp lý PPP được định vị là trọng tâm nhằm bảo đảm hiệu quả kinh tế - xã hội.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, luận án tập trung khảo sát chủ yếu vào hình thức hợp đồng BOT đối với hệ thống đường quốc lộ và đường cao tốc. Các hình thức hợp đồng PPP khác (như BTO, BT, O&M, DBFM) cũng như phân khúc đường bộ đô thị và giao thông nông thôn chưa được khảo sát chi tiết. Đồng thời, nghiên cứu chưa phân tích hoạt động tư nhân hóa thông qua việc mua cổ phần doanh nghiệp nhà nước ngành xây lắp giao thông.
Về hướng nghiên cứu tiếp, các công trình kế tiếp có thể mở rộng đánh giá việc áp dụng Luật PPP sau khi được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành; nghiên cứu các phương thức huy động vốn mới cho khu vực tư nhân như phát hành trái phiếu công trình, quỹ đầu tư hạ tầng nhằm giảm bớt sự phụ thuộc vào vốn tín dụng ngân hàng thương mại.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu hữu ích cho các đối tượng sau:
- Cơ quan quản lý nhà nước: Các bộ chuyên ngành (Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính) và ủy ban nhân dân các tỉnh có thể tham khảo trong quá trình xây dựng chính sách, quy hoạch mạng lưới trạm thu phí và tổ chức đấu thầu dự án PPP.
- Giảng viên và nghiên cứu sinh: Cung cấp nguồn tài liệu học thuật và khung lý thuyết về kinh tế hạ tầng, kinh tế chính trị và đối tác công - tư cho các chương trình đào tạo sau đại học ngành kinh tế.
- Doanh nghiệp tư nhân và tổ chức tín dụng: Hỗ trợ các nhà đầu tư và ngân hàng thương mại nhận diện các rủi ro thể chế, rủi ro tài chính và phương thức điều hòa lợi ích khi tham gia các dự án hạ tầng giao thông quy mô lớn.
Câu hỏi thường gặp
-
Vì sao luận án xếp kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ vào nhóm hàng hóa công cộng không thuần túy?
Luận án chỉ rõ hàng hóa công cộng thuần túy phải thỏa mãn đồng thời hai thuộc tính: không loại trừ và không cạnh tranh trong tiêu dùng. Kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ có đặc tính loại trừ, vì cơ quan quản lý hoặc nhà đầu tư có thể ngăn chặn người không trả tiền sử dụng đường thông qua rào chắn trạm thu phí hoặc quy định hành chính. Ngoài ra, khi lưu lượng phương tiện vượt quá năng lực thiết kế, sự lưu thông của một phương tiện sẽ gây cản trở phương tiện khác (tính cạnh tranh xuất hiện do ùn tắc). Do đó, hạ tầng đường bộ mang bản chất hàng hóa công cộng không thuần túy.
-
Động cơ cốt lõi nào thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân đầu tư vào hạ tầng giao thông đường bộ?
Theo luận giải của tác giả, động cơ trực tiếp và mạnh mẽ nhất của khu vực tư nhân là lợi ích kinh tế tài chính, cụ thể là tìm kiếm lợi nhuận, bảo toàn và phát triển vốn đầu tư với tỷ suất sinh lời kỳ vọng, đồng thời tìm kiếm các cơ hội kinh doanh mới và nâng cao thương hiệu doanh nghiệp. Khu vực tư nhân chỉ tham gia đầu tư khi dự án có phương án tài chính khả thi và có khả năng thu hồi vốn thông qua việc thu phí từ người sử dụng hoặc các cơ chế thanh toán khác từ Nhà nước.
-
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến các mâu thuẫn, phản ứng của người dân tại một số trạm thu phí BOT giai đoạn 2011-2018 là gì?
Luận án chỉ ra ba nguyên nhân trực tiếp: thứ nhất, vị trí đặt trạm thu phí chưa hợp lý (nhiều trạm đặt trên tuyến đường độc đạo hiện hữu được nâng cấp nhẹ thay vì làm đường mới hoàn toàn, hoặc đặt ngoài phạm vi dự án BOT để thu gom phí); thứ hai, mức phí thu bị đánh giá là quá cao so với chất lượng dịch vụ cung ứng và thời gian thu phí kéo dài thiếu minh bạch; thứ ba, người dân trong khu vực lân cận trạm thu phí không có sự lựa chọn tuyến đường tránh miễn phí nhưng vẫn phải trả toàn bộ mức phí như các phương tiện lưu thông đường dài.
-
Tác giả luận án đề xuất cơ chế nào để giải quyết bài toán xung đột lợi ích giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người sử dụng đường bộ?
Luận án đề xuất cơ chế điều hòa lợi ích kinh tế tổng thể: Nhà nước cần thực hiện cơ chế chia sẻ rủi ro giảm doanh thu; quy hoạch lại mạng lưới trạm thu phí, miễn giảm phí cho người dân sinh sống gần trạm; áp dụng bắt buộc công nghệ thu phí tự động không dừng (ETC) để minh bạch hóa doanh thu thực tế; kiểm toán định kỳ để điều chỉnh thời gian thu phí sát với thực tế lưu lượng xe; và tăng cường đối thoại công khai nhằm tạo sự đồng thuận xã hội trước khi vận hành trạm thu phí.
-
Việc thu thập dữ liệu sơ cấp qua phỏng vấn chuyên gia trong luận án được tiến hành với những nhóm đối tượng nào?
Nghiên cứu sinh đã xây dựng phiếu hỏi và tiến hành phỏng vấn sâu 11 chuyên gia đại diện cho các bên trong quan hệ PPP, bao gồm: đại diện cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Ban Quản lý dự án Hồ Chí Minh, Sở GTVT địa phương có dự án BOT), đại diện các nhà đầu tư tư nhân, lãnh đạo Hiệp hội Vận tải ô tô Việt Nam, giám đốc doanh nghiệp vận tải hành khách và vận tải hàng hóa (logistics). Bên cạnh đó, tác giả còn khảo sát trực tiếp nhóm chủ phương tiện ô tô cá nhân thường xuyên lưu thông qua các trạm BOT để phản ánh góc nhìn của người thụ hưởng dịch vụ.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Bùi Thị Vân đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận kinh tế chính trị về sự tham gia của khu vực kinh tế tư nhân vào phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, xác định rõ bản chất hàng hóa công cộng không thuần túy và cơ chế vận hành lợi ích giữa các bên liên quan. Thông qua việc phân tích thực tiễn sinh động giai đoạn 2011-2018, công trình đã chỉ rõ những đóng góp về nguồn vốn ngoài ngân sách cũng như các khiếm khuyết trong chỉ định thầu, đòn bẩy tài chính và vị trí trạm thu phí BOT tại Việt Nam. Hệ thống giải pháp được đề xuất trong luận án tập trung vào việc hoàn thiện thể chế PPP, minh bạch hóa cơ chế quản lý và điều hòa lợi ích kinh tế, cung cấp luận cứ khoa học có giá trị ứng dụng cho công tác hoạch định chính sách hạ tầng giao thông đường bộ đến năm 2025 và tầm nhìn 2030.